Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Du lịch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 6: Đất và người trên Cánh đồng Năn.

Trên suốt tuyến tả ngạn Mỹ Thanh bây giờ, ai cũng có thể du ngoạn cảnh bằng xe hơi, xe máy... xem những vuông tôm với cánh quạt chạy rào rào, tới mùa thì máy gặt đập chạy ầm ì trên ruộng... nhưng nếu không phải người ở đây thì ít ai biết rằng, mới cách đây quãng hơn chục năm-xa lắm là chưa tới 20 năm, vùng đất này nổi danh với tên gọi là cánh Đồng Năn.

Nhìn những cánh đồng lúa xanh tươi đang thời con gái mượt mà, những con lộ nhựa, lộ Dal chạy qua những thôn, xóm sầm uất... mấy ai ngờ được ngày xưa, vùng đất này đã phèn lại còn nhiễm mặn nặng nên trên những cánh đồng nhìn đâu cũng là Năn !? Năn ở đây toàn là Năn Bộp, cọng lớn như chiếc đũa. Qua mùa hạn thì năn kết củ, nấu ăn bùi bùi, ngòn ngọt...


< Đồng Năn những năm 1980.

Đồng Năn ngày trước rộng hơn 5.000 ha, bao gồm khu cửa biển Mỏ Ó và cả một dải dọc theo tả ngạn sông Mỹ Thanh dài hơn 10 cây số, trải dài từ xã Liêu Tú, Lịch Hội Thượng đến tận Trung Bình. Đồng Năn ngày trước thuộc huyện Long Phú, ngày nay nằm ở huyện Trần Đề.

Từ một vùng đất đầy năn, lác... Đồng Năn giờ đây đã đổi thay diện mạo, trở thành cánh đồng nuôi tôm công nghiệp có một không hai của cả nước, góp phần chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp của tỉnh Sóc Trăng.

Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, đất nước ta gặp bao khó khăn vì lệnh cấm vận của những thế lực thù địch... một trong muôn vàn khó khăn, vất vả ấy là thiếu lương thực. Để giải quyết khó khăn này, tuyến đê ngăn mặn Long Phú-Tiếp Nhựt dài hơn 50km bắt đầu từ xã Song Phụng chạy dài tới tận Tổng Cán đã được xây dựng; những tuyến kênh thủy lợi ở các địa phương cũng được thi công. Và trong khoảng thời gian 1981-1982, Đảng bộ và nhân dân huyện Long Phú đã mở nhiều đợt “chinh phục” Đồng Năn để trồng lúa. Câu khẩu hiệu của ngày ấy mang đậm quyết tâm của lòng dân-ý Đảng : “Giải phóng cánh Đồng Năn”.

< Cánh Đồng Năn hôm nay.

Về Đồng Năn hôm nay, muốn hỏi chuyện xưa không thể quên những con người giờ như là những trang sách lưu đậm nét dấu ấn của một thời hừng hực khí thế “Giải phóng cánh Đồng Năn”! Đó là 2 lão nông cố cựu Sáu Khởi (Đặng Văn Khởi - 56 tuổi) và Ba Tiềm (Võ Văn Tiềm-58 tuổi). Muốn tìm ông Sáu thì dễ lắm-cứ đến đầu lộ Mỏ Ó-đến ngay cống 6 Quế 2 hỏi nhà là ai cũng biết.

Ông Sáu Khởi giờ đã chuyển qua canh tác tôm nước lợ, nhưng ngày nay mấy ai biết về một quãng thời gian dài ông là một trong những người đầu tiên hết mình vì cây lúa trên cánh Đồng Năn. Những câu chuyện mà hai lão nông “cố cựu” ở vùng đất này đã giúp chúng tôi tái hiện lại khá trọn vẹn khung cảnh của những cuộc tiến quân “Giải phóng cánh Đồng Năn” ngày ấy. Ông Sáu kể chuyện xưa thời mới bắt đầu làm lúa mà bọn tôi chỉ nghe không thôi, cũng đã dội ngược trong khi ông thì vừa cười vừa nói:

< Những đứa trẻ ở cánh Đồng Năn những năm 1980.

- Quãng mấy năm 80 đó thì ai muốn làm bao nhiêu thì làm. Cứ vô Đồng Năm vác theo mấy cái cây để dành cặm ranh. Lội cho đã để lựa... cúi xuống nếm thử miếng nước, nó mà ba chè thì tiếp tục đi chỗ khác. Thấy ưng bụng chỗ nào thì cặm... Cứ đi mà cặm tới. Còn làm lúa hả? Đất ở đây cày thì lên phèn nên chỉ mướn người ta phát, một năm có khi phải phát 2-3 lần rồi vác bả đó đi rải đều khắp ruộng, đợi nó mục xuống thì đi mua mạ về cấy chớ ở đây đâu có gieo mạ được. Muốn cấy, phải đi xuống tuốt dưới ấp Bưng Lức cũng phải 15 cây số mua mạ. Ngặt là người ta cũng cấy nên phải đợi người ta cấy xong có dư mạ thì mới bán cho mình. Mua được một ghe mạ đem về kể như mừng lắm rồi. Một bó mạ đem về đây thôi thì quá cực. Tới bờ kênh thì phải khiêng, phải gánh từ bó đem vô đồng của mình. Có khi mình cấy xong thì vài bữa là nó muốn trổ bông rồi... vì mạ quá già. Mà xướng một cái là... hễ cấy chỗ này hổng êm thì bỏ... đi kiếm chỗ khác cấy nữa...

< Văn nghệ trên công trường đào kênh ở cánh Đồng Năn những năm 1980.

Tôi hỏi: 1 công khi đó mình kiếm được cỡ bao nhiêu giạ lúa?

Lão nông Ba Tiềm chen vào: 5-7 giạ là cùng. Trúng nhứt thì cũng hổng tới 15 giạ! Ông Sáu bổ sung: 15 giạ thì phải đợi tới mấy năm sau mới có, khi thời kỳ làm thần nông đỏ rồi đó! lúc đầu mình làm keo trắng, keo đỏ, ba thiệt đó... thiệt cỡ nào cũng đi tiêu hết.

Hai lão nông bật cười sảng khoái.

Ông Sáu Khởi tâm sự: Thời đó cũng đeo dữ dằn lắm. Đảng viên mà! Mần biển bao nhiêu đổ hết vô cây lúa. Có lúc tôi làm tới hơn 60 công đất mà cuối cùng kêu công cắt vô “cắt chia hai’’ người ta còn hổng cắt. Tới năm 88 thì kể như nghỉ luôn.

< Ông Sáu Khởi (bên phải) và Ông Ba Tiềm cùng tác giả ở Cống Sáu Quế 1.

Tới năm 88-89 là ở đây mình đã bắt đầu cấp đất rồi. Tới lúc đó thì cây lúa kể như là dứt, mình vận động bà con mình chuyển sang làm con tôm. Mà lúc đó chủ yếu là nuôi tự nhiên. Khổ nỗi lúc đó cá, tép còn rất dồi dào nhưng giá cá thì quá thấp. Hồi đó tui bán 500-600 ký cá kèo mà sắm chưa được 1 chỉ vàng.

Hai lão nông dẫn chúng tôi đến Cống Sáu Quế 1-cái cống đầu tiên đánh dấu quá trình khai phá cánh Đồng Năn, chứng tích của những ngày tháng gian nan, nhưng hào hùng của những ngày đầu vỡ đất. Con đê ngăn mặn ngày trước vẫn còn lại vài dấu tích vì ngày nay, hầu như tuyến đường Nam sông Hậu đã nằm hẳn trên con đê này. Lão nông Ba Tiềm và Sáu Khởi hào hứng kể cho chúng tôi nghe về những ngày làm thủy lợi khai phá cánh Đồng Năn.

Thời đó đi làm thuỷ lợi bà con mình còn dùng từ “đi công tác’’. Thông thường 1 năm có 2 đợt. Hầu như nhà nào nhà nấy đều có ít nhất 2 cây leng? 1 cây leng ống và 1 cây leng bản. Leng bản để dành cạy, dỡ lớp trên mặt, leng ống dùng để đào đất mềm ở dưới... Thời đó chỉ cần cán bộ ấp mang chiếc loa cuốn bằng tôn đi phát loa thông báo ngày ra quân làm thuỷ lợi là tới buổi đó là bà con mình tập trung để đi liền.

< Anh Bảy Nam (bên phải) và Trần Văn Cứ trò chuyện cùng tác giả về quá trình làm Cống Sáu Quế 1.

Lão nông Sáu Khởi nói vẻ như tiếc nuối khi nhìn chúng tôi cùng với máy ảnh, máy quay phim, máy ghi âm vác trên vai lỉnh kỉnh: Thời đó mà có quay phim như vậy giờ thì đẹp lắm, vui lắm... Người đông như hội... trải dài trên cả một cánh đồng dài 1-2 cây số. Rồi băng, cờ, khẩu hiệu... văn nghệ hát, hò sôi nổi...

Đứng trên đỉnh cao của cống Sáu Quế, nhìn Đồng Năn bây giờ trải dài mút tầm mắt là những vuông tôm công nghiệp; những căn nhà ngói đỏ... chúng tôi không còn nhận ra Đồng Năn ngày trước!? Anh Bảy Nam (Quách Văn Nam-G.Đ Sở NN&PT nông thôn Sóc Trăng) bồi hồi nhớ lại thời mà những người đi cắm cọc tiêu để đào kênh phải phát chấp, vẹt, lau sậy để phóng tuyến... tất cả vẫn còn như in trong tâm trí những người cán bộ thủy lợi của một thời gian khó ấy.

Khi khởi công cống Sáu Quế 1 tôi là một cán bộ thuỷ lợi mới ra trường. Vì là vùng nền cát nên móng cống không thể dùng cừ tràm để đóng được. Phần kế thi công theo kỹ thuật cừ bản đuôi cá được đóng phía trước và phía sau để ngăn cát. Hồi mình đi học thì chưa có học kỹ thuật này. Thành ra tất cả anh em đều xắn tay nhảy xuống làm, mà đóng. Lúc ấy tất cả đều bằng tay, thủ công hết. Cừ bản bề rộng khoảng 2 tấc, dầy 1 tấc, cưa thành cái đuôi cá rồi ghép lại rất khó khăn... mà vùng đó đâu có nước ngọt nên phải xài nước giếng trộn bê-tông, nấu nướng, tắm giặt...

< Bãi biển Mỏ Ó những năm 1980.

Anh Trần Văn Cứ (Trưởng Trạm Quản lý Thuỷ nông huyện Trần Đề) - một trong những người của “Cống Sáu Quế 1’’ bổ sung: Tất cả đều phải kéo nước, gánh nước từ trên đoạn đường từ giồng Bà Vĩnh về đến điểm thi công. Khối lượng bê tông là rất lớn nên anh em phải gánh nước dự trữ, gánh nhiều ngày để trữ trong phuy, trong bồn... Ròng rã hơn nửa năm như vậy đó!

Gọi là Đồng Năn nhưng bây giờ đến đây, tìm một cọng Năn Bộp sao thật khó quá... có còn chăng là vài đám Năn Chỉ, xen lẫn vài bụi Năn Bộp ở mấy miếng bìa, chéo ven đường. Tất thảy đều đã là những vuông tôm công nghiệp... Đường điện, điện thoại giăng mắc khắp đồng. Ban đêm, đèn điện sáng trưng, lấp lánh trên cánh đồng như đêm hội hoa đăng.

Đi chơi Mỏ Ó và Bãi Hội Bình

Đến vùng đất tả ngạn Mỹ Thanh, nếu chưa đến Mỏ Ó, khám phá Bãi Hội Bình (tên quen thuộc là Bãi Giá), rồi thăm Cảng cá Trần Đề... thì kể như chưa trọn vẹn.

< Ông Bảy Khói (bên trái) và tác giả ở bãi Mỏ Ó ngày trước nay đã là dải rừng bần dày đặc.

Mỏ Ó là tên chỉ dải đất cuối cùng của Bãi Hội Bình nhô ra biển, có thể xem đây là điểm mốc giao nhau trên đất liền của cửa sông Mỹ Thanh và dòng Hậu Giang trước khi đổ nước ra Biển Đông. Đứng bên xóm chài Mỹ Thanh nhìn qua... mỏm đất này có hình thù nhọn như mỏ của một con ó đang mổ ra phía biển nên được mọi người đặt cho cái tên Mỏ Ó.

Ông Đăng Ngọc Chói-một người kỳ cựu ở đây dẫn chúng tôi đi thăm lại dấu tích bãi cát ngày xưa mà nay chỉ còn hình ảnh sót lại của một nồng cát với những chùm hoa muống biển. Bãi cát ngày xưa nay đã là một dải rừng bần mênh mông chạy dài từ Mỏ Ó đến tận Bãi Giá. Một dự án du lịch sinh thái cũng đã được khởi động ở vùng rừng ngập nước ở cửa sông này.

Xóm chài Mỏ Ó ngày trước nằm ở ngay đầu doi, trải dài tới đầu Bãi Hội Bình khi ấy là cả một dài cát dài hơn 3km. Sau trận sóng thần năm 1992, những cư dân ở đây được di dời vào 2 tuyến khu dân cư mới ở phía trong đê mà tuyến 1 nằm ở mé trong với bến cá hiện giờ khá sầm uất... còn tuyến 2 thì lại ở mé ngoài Giồng Bà Vĩnh với nghề canh tác rẫy: trồng đậu phộng, trồng dưa hấu, trồng bắp tuỳ theo mùa.

< Xóm Mỏ Ó những năm 1980.

Chúng tôi tin rằng rồi đây, Mỏ Ó sẽ đẹp, sẽ trù phú hơn ngày xưa nhiều bởi những con người nơi đây vẫn luôn mang trong mình tình yêu quê hương mãnh liệt. Ông Bảy Chói (Đăng Ngọc Chói-65 tuổi) ở ấp Mỏ Ó khi trò chuyện cùng chúng tôi đã giới thiệu về mảnh đất này qua bài thơ có tên Mỏ Ó* của nhà thơ Diệp Vũ, (sáng tác vào khoảng nhưng năm 80 của thế kỷ XX) mà theo ông Bảy thì “chưa có bài thơ, bài ca, bài báo nào viết về Mỏ Ó có thể qua được bài thơ này’’. Tôi trích ra đây vài câu thơ đầu:

Mỏ Ó! cái tên nghe ngồ ngộ.
Ở nơi đây có nhiều ó lắm chăng?
Câu trả lời không ai biết nguồn căn...
Tên Mỏ Ó đặt nên từ muôn thủa.
Ở một nơi xa xôi và cách trở.
Cửa Mỹ Thanh gió thổi bốn mùa.
Nơi sóng vỗ bờ nhiều tôm cá,
Ngày cuối cùng quân giặc chịu thua.
Tôi trở lại với trời xanh bãi cát,
Những hàng rau muống biển xanh tươi.
Những đoàn thuyền ra khơi đánh bắt
Sóng chiều lên Mỏ Ó reo cười...
.....

< Lên cá ở xóm ấp Mỏ Ó.

Từ Mỏ Ó, ngược theo đường Nam Sông Hậu về Cảng cá Trần Đề là xóm chài Bãi Giá ở ngay đầu bìa rừng. Thật đẹp và nên thơ khi trên những chiếc ghe, tàu đi biển... những cô gái thoăn thoắt đôi tay vá lưới. Những gò má thiếu nữ ửng hồng, e thẹn trước ống kính máy ảnh, máy quay phim. Bãi Giá đẹp, Bãi Giá thật nên thơ, nên cũng không lạ khi đây là điểm đến để vẽ tranh, tìm cảm hứng sáng tác thường xuyên của những hoạ sĩ và văn nghệ sĩ.

Điểm đến cuối cùng trên tuyến tả ngạn Mỹ Thanh mà chúng tôi ghé là Cảng cá Trần Đề - một điểm nhấn về phát triển kinh tế biển của tỉnh Sóc Trăng trên tuyến đường Nam Sông Hậu. Cuộc trò chuyện với Giám đốc Cảng cá, Trần Văn Chiểu đã mang đến cho chúng tôi nhiều thông tin thú vị khi anh ví von về địa thế của Cảng cá Trần Đề hiện tại đảm bảo đủ “thiên thời-địa lợi-nhân hoà”:

Đường Nam Sông Hậu đã mở xong thì giao thông hoàn toàn nối liền bến cảng với các trung tâm chế biến hàng thuỷ sản. An ninh, trật tự ở đây thì khỏi chê-rất an toàn cho các tàu cá cặp bờ lên hàng. Dịch vụ hậu cần nghề cá cũng đảm bảo. Trung bình 1 tháng có hơn 250 tàu cá lớn, nhỏ cập bến lên hàng cũng đủ thấy tiềm năng của Cảng cá Trần Đề. Chưa tính tới vị trí của cảng với vùng khai thác biển Tây Nam là rất thuận tiện.

Chuyến phiêu du tả ngạn Mỹ Thanh của chúng tôi kết thúc bằng một bữa tiệc do Hảo - một “thổ địa” ở cảng cá chiêu đãi với lời giới thiệu: Đến Trần Đề mà chưa ăn con cá này thì cứ kể như là chưa đến. Đó là con cá Xạo. Cá xạo ngon phải là con cá “trân’’-nghĩa là khi bẻ phần vi đuôi của con cá thì nó chỉ cong gập lại chứ không gãy. Đó mới lá con cá xạo ngon nhất. Cá xạo hôm nay được làm 2 món phổ thông nhất ở đây là... rang muối và nấu xá pấu. Sơn - Đầu bếp Quán Quốc Việt lý giải với chúng tôi là:

< Cảng Trần Đề hôm nay.

Cá xạo thịt ngọt, lành... Ăn no bụng cũng không sao. Cá này rang muối thì để lại đầy đủ vị ngọt, thơm của thịt cá. Ăn kèm với rau thơm, bún, bánh tráng thì có thể thay cơm mà không lo “chọt bụng”. Còn nấu với xá pấu thì mang “âm hưởng’’ của người Hoa vì vừa chế biến nhanh, vị ngọt đậm đà cùng mùi thơm của thịt cá sẽ cho thực khách một cảm giác hơi khó tả...

Nếu một ngày nào đó, ta cảm thấy những bức tường vuông vức trong căn phòng máy lạnh trở nên chật hẹp, ta cần những không gian thoáng đãng với mây trời, với gió biển... hãy dành chút thời gian đến với Đồng Năn, đến với Mỏ Ó, Bãi Giá... ghé chơi Cảng cá Trần Đề. Tin rằng - bạn sẽ thấy thêm yêu con người cùng khung cảnh thiên nhiên hoà quyện sau mỗi chuyến phiêu du.



Du lịch, GO! - Theo Tuyên Giáo Sóc Trăng

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 5: Rạch Gòi - Lịch Hội Thượng và những ngôi chùa...

Từ ngã ba Tài Văn, xuôi theo Tỉnh lộ 8, dọc theo kênh Tiếp Nhựt  khoảng 15-16 Km là đến một thị trấn khá sầm uất nằm ở tả ngạn Mỹ Thanh - đó là thị trấn Lịch Hội Thượng. Vốn là một khu dân cư sầm uất từ xưa, không ít người đã ví von: “Cái chợ ba dấu nặng này trước giờ luôn là điểm trung tâm của chiếc đòn gánh-gánh cả hai bờ tả - hữu Mỹ Thanh”.

Rạch Gòi - Lịch Hội Thượng

Cho đến tận hôm nay, vẫn còn rất nhiều người gọi thị trấn Lịch Hội Thượng bằng một tên xưa cũ - chợ Gòi.

Địa danh này bắt nguồn bởi một từ gốc Khmer: Prék Koi do đọc trại ra âm tiếng Việt - rạch Gòi hoặc từ cách phiên âm tiếng Pháp. Cuối thế kỷ 19, địa danh gốc này đã được ghi nhận trên bản đồ của chính quyền thực dân Pháp.

< 3 làng “Lịch Hội Thượng-Hạ-Trung” trên bản đồ ST năm 1889.

Còn với những người Hoa đã sinh sống ở đây từ xa xưa thì Lịch Hội Thượng lại có tên gọi mà phiên âm Hán Việt là: pha lễ bán. Cụm từ này dùng để chỉ hình thế của vùng đất này là cao ráo nhưng không bằng phẳng; phân nửa là rừng. Phải chăng đây chính là hình thế đất giồng? Dù tên có gì thì vẫn cần phải khẳng định rằng: nơi đây đã là một trung tâm buôn bán - trao đổi hàng hoá có từ lâu đời và vẫn phát triển cho đến tận hôm nay. Và cũng trên vùng đất này, cộng đồng 3 dân tộc: Kinh - Hoa - Khmer đã sống cộng cư từ lâu và cùng nhau khai khẩn vùng đất này.

Lịch Hội Thượng xưa thuộc tổng Định Mỹ với trên 5.000 dân, vốn là hai làng Lịch Hội Trung và Lịch Hội Thượng hợp lại và đây là một khu dân cư quan trọng. Còn Dư địa chí Sóc Trăng năm 1936 thì ghi nhận Rạch Gòi là 1 trong 13 trung tâm thương mại của tỉnh Sóc Trăng được xây dựng bên cạnh con rạch cùng tên: “Chợ Rạch Gòi được chuyển thành trung tâm thị tứ loại 3 theo Nghị định ngày 13/8/1925, là một khu dân cư khá quan trọng nằm ở đông - nam tỉnh Sóc Trăng... Hồi đầu thế kỷ XX, Rạch Gòi đã có 787 dân đăng tịch, đa số là người Khmer và người Hoa, liên thông với con đường hàng tổng dài 14 km”.

< Tác giả trò chuyện cùng A.Kiệt, A.Ánh và A.Phước bên hông chợ Lịch Hội Thượng.

Có một thực tế là mặc dù không có vai trò quan trọng về thương mại nếu chỉ nhìn ở góc độ hàng hoá chính yếu của Sóc Trăng khi ấy là lúa gạo, nhưng chợ Rạch Gòi đã là một trung tâm buôn bán - trao đổi hàng hoá nhu yếu phẩm thiết yếu của cả một vùng đất rộng lớn hai bên bờ sông Mỹ Thanh bởi khi xưa, giao thông chủ yếu của cư dân trong vùng này vẫn là đường thuỷ chứ không phải là đường bộ như bây giờ... vai trò ấy vẫn giữ vững cho đến ngày nay.

Ông Hồ Xuân Vĩnh (65 tuổi), chủ tiệm bánh Đức Phát cho biết rằng tiệm bánh của ông đã có từ 3 đời nay, chuyên làm đủ các loại bánh, mứt như: thèo lèo, bánh pía, bánh trung thu.v.v… Từ thời những năm 40 của thế kỷ XX và cả sau đình chiến năm 1954, tiệm Đức Phát luôn là tiệm bán buôn cả sỉ và lẻ cho các tiệm nhỏ từ vàm Dù, Vàm Lẻo, chợ Giồng Chùa, Lạc Hoà (của Vĩnh Châu) và bên tả ngạn là suốt từ chợ Bãi Giá (Long Phú) cho đến Tài Văn (Mỹ Xuyên). Mức độ buôn bán hầu như cứ giữ nguyên và có phần phát triển mạnh lên sau khi được tách ra thành huyện Trần Đề.

Ông Nguyễn Đại Lượng, Nguyên Bí thư thị trấn Lịch Hội Thượng những năm 80 của thế kỷ XX thì ví von hơn: “Chợ Gòi dù nằm bên tả ngạn Mỹ Thanh nhưng lại có vai trò như là phần giữa của một cái đòn gánh - gánh cả hai bờ Mỹ Thanh vì ngày trước, hệ thống đường xá nào được như bây giờ. Đi chợ Gòi với một phần các xã vùng sâu của huyện Vĩnh Châu là thuận tiện hơn cả.


< Một ngôi nhà xưa ở chợ Lịch Hội Thượng.

Những góc phố cũ mái ngói âm dương cổ kính chen lẫn những căn nhà mới xây tươi mới vươn cao, chen lẫn những mảng rêu phong dọc mái hiên tựa như dấu ấn thời gian vẫn còn khắc ghi đậm trong câu ví von của không ít người nơi đây mà tôi chép lại: “cái chợ ba dấu nặng này trước giờ luôn là điểm trung tâm của chiếc đòn gánh - gánh cả hai bờ tả - hữu Mỹ Thanh”!

Chợ Gòi - Lịch Hội Thượng giờ đang chuyển mình trong một vị thế mới, là thị tứ trung tâm của huyện ven biển Trần Đề với thế mạnh kinh tế chủ lực là nuôi trồng thuỷ sản và khai thác biển. Chợ Gòi cũ giờ đã quá tải và đang rất cần khoác lên mình một chiếc áo mới tương xứng. Ngồi trò chuyện bên góc Chợ Gòi với anh Ánh, anh Kiệt, anh Phước... những người đang buôn bán và làm việc ở chợ Lịch Hội Thương, tôi chợt nhận thấy chuyện xây chợ, phát triển chợ sao cho đẹp, cho thuận tiện bán buôn đang là điểm tương đồng của cả người dân và Nhà nước. Anh Lý Tuấn Kiệt-chủ tiệm vàng Tuấn Kiệt, người đăng ký cả 4 gian ki-ốt ngay đầu nhà lồng chợ mới đang trong quá trình xây dựng cho biết:


< Chú Ba Hưng đang kể chuyện cũ ở Lịch Hội Thượng.

- Làm cái nhà lồng chợ mới này thì Nhà nước làm “chủ xị”, còn những người kinh doanh có nhu cầu thì góp vốn để xây chợ, tất cả đều thông qua họp dân, bàn bạc các thứ hết. Từ góp ý cho thiết kế, góp ý việc xây dựng, giám sát.v.v... rồi phân chia thời gian và các đợt góp vốn. Nói chung là... “hợp tác vui vẻ”!

 ... và những ngôi chùa chứng tích chiến tranh

Trong chiến tranh chống Mỹ, chợ Lịch Hội Thượng vốn là một chợ trung tâm quận. Chính vậy nên những vùng ven, vùng lân cận quận lỵ thường xuyên bị Mỹ, Nguỵ chà đi - sát lại hòng đánh bật lực lượng du kích, bộ đội địa phương bám dân, bám đất dọc hai bờ tả - hữu Mỹ Thanh. Đặc biệt là vào những 60 của thế kỷ XX. Nghe chú Ba Hưng (74 tuổi - nguyên Huyện uỷ viên huyện Lịch Hội Thượng) kể chuyện chiến trường ác liệt, rồi những trận đánh năm xưa mới cảm thấy khâm phục lớp cha anh của một thời bom đạn ác liệt nhưng oai hùng thủa nào.


< Chùa Prêk Chat ngày nay.

Trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến 1968, Mỹ - Nguỵ thường xuyên rải chất độc hoá học làm rụng lá cây dọc theo những cánh rừng hai bên bờ Mỹ Thanh. Chính vì vậy mà bộ đội, du kích cũng phải di động, thường xuyên thay đổi chỗ ở. Rồi bọn biệt kích khét tiếng do tên Mương chỉ huy thường xuyên đột kích, rồi lính bảo an ở Phân khu Bảo An đóng ngay vàm Bãi Giá kềm siết và chà đi sát lại. Chỉ cần nghe tin “Việt Cộng đi” là bọn bảo an bố trí bao đánh. Ngay cả Tiểu đoàn địa phương quân của tỉnh cũng gặp không ít khó khăn khi hoạt động ở vùng này.

- Cái vùng đó là vùng chiến lược, cửa ngõ của tỉnh đổ ra biển mà! Đời sống của mình lúc đó thì thôi... thiệt gian khổ. Được một cái là lực lượng của mình cỡ tụi tui lúc đó đều còn trẻ... cỡ 27-28 và lớn lắm là 30 tuổi. Còn nhiều anh em du kích đa phần từ 20 tới 25. Do đó, tất cả những khó khăn, tất cả những bom đạn, tất cả chuyện thiếu cơm ăn, thiếu áo mặc tụi tui đều vượt qua được.

Chuyện bom đạn ì đùng và khủng khiếp như thế nào thì lớp trẻ ngày nay chỉ thấy... trên phim... nhưng đến vùng đất này thì chỉ cần đến thăm 2 ngôi chùa là Prêk Chat ở Giồng Chát và Long Thiền Tự ở Tổng Cán thì sẽ cảm nhận ngay được cái “tàn bạo, khốc liệt” của chiến tranh được ngay. Riêng tôi thì lại nghĩ “Nếu đã chiến tranh thì cửa phật cũng không chừa”?


< Chú Thạch Chuốt - nhân chứng của vụ thảm sát.

Chùa Prêk Chat ngày nay đã được xây dựng lại mới và thật đẹp trong quang cảnh rộng rãi của làng quê thanh bình, nhưng trong khuôn viên chùa - Bia chứng tích chiến tranh vẫn ghi rõ: “Ngày 08/5/1965, chính quyền Mỹ, Nguỵ đã dùng máy bay ném bom thảm sát, giết và làm bị thương trên 300 thường dân vô tội (đa số là người già, phụ nữ và trẻ em) ở các xã Lịch Hội Thượng, Liêu Tú thuộc huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Đây là những tội ác dã man do bọn Mỹ, Nguỵ gây ra sau những thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam Việt Nam”.

Chú Thạch Chuốt (65 tuổi), một nhân chứng của vụ thảm sát năm ấy, giờ cất nhà ngay cạnh chùa kể lại:

- Khi ấy tôi cũng đang tu tập ở chùa này. Vệt bom trải dài từ Tổng Cán vắt sang đây. Sa-La của chùa cũng trúng một trái. Sau đợt bom, tui cùng những vị sư ở đây và những người khác nhào đi cứu thương, tìm kiếm và khâm liệm những người chết dọc dải giồng này. Cảnh tượng khi đó thảm lắm... nhà sập, nhà cháy, người chết rồi tiếng kêu khóc làm người ta phải ám ảnh cả một thời gian dài.

Cũng hứng trọn một trái bom trong tháng 5 ấy là Long Thiền Tự nằm ở cuối rạch Tổng Cán. Chánh điện ngôi chùa này hứng trọn trái bom nên sập hoàn toàn. Hố bom ngày xưa giờ đã được lấp và trên chính hố bom ấy, một Lâm Tì Ni đã được dựng lên hẳn như một ước nguyện cho hoà bình, an lạc.

< Cô Diệu Hương và tác giả (trái) trong chính điện Long Thiền Tự.

Thế nhưng điểm đặc biệt nhất của Long Thiền Tự chúng tôi chỉ được biết khi cô Diệu Hương dẫn chúng tôi vào gian chính điện hiện tại và chỉ cho xem những pho tượng gỗ. Tất cả các pho tượng đều mang trên mình dấu tích của chiến tranh. Cô cho biết: tượng 18 vị La Hán do bằng sành nên đều vỡ nát, chỉ còn lại 21 pho tượng gỗ dù bị hư hỏng nhưng đều đã được phục hồi và tu sửa lại. Đó là những tiên ông, hộ pháp, phật Di Lặc, Văn Thù... rồi Phật Tổ đều mang dấu tích... đó có thể một vạt gỗ ở cánh tay bị mảnh dom vạt bay mất nay còn dấu chắp vá, đó có thể là thanh gươm gãy, chú voi gãy ngà, gãy vòi.v.v. Vậy nhưng gương mặt của tất cả vẫn như đang nở nụ cười hiền từ, như tha thứ cho những kẻ đã gây nên cảnh bom đạn tang thương, như khuyên nhủ con người hãy tránh xa chiến tranh, hướng đến một tương lai chan hoà tình nhân ái.



Du lịch, GO! - Theo Tuyên Giáo Sóc Trăng

Nơi lúa và muối kề cận

Càng đẹp hơn vào những ngày đầu đông, khi cơn gió hanh hao thổi tràn về các cánh đồng còn trơ gốc rạ ở vùng biển Nam Định, khi vụ mùa mới được thu hoạch làm ấm lên ngọn lửa trong mắt những người dân xóm đạo để cùng nao nức ngóng về ngày lễ trọng của vùng - ngày Thiên Chúa giáng sinh.

Nhắc tới biển Nam Định, hẳn dân thành thị miền Bắc, nhất là cánh đàn ông thường nở nụ cười khó hiểu. Đó là do tai tiếng của bãi biển Quất Lâm, nơi sự thật trần trụi của công nghệ mại dâm đã biến cả một vùng thuần nông xưa kia thành nơi nhốn nháo xô bồ. Song bờ biển dài của Nam Định cũng như Thái Bình đâu phải nơi nào cũng sa vào tình trạng tệ hại đó, và hình ảnh chung nhất của nơi này vẫn là sự mộc mạc, yên bình.

Quê ven biển mà thóc đầy bồ

Trong mùa đầu đông, vùng đồng quê chiêm trũng của các huyện Ý Yên, Nam Trực… bỗng khoác lên cảnh vật một sắc màu trong trẻo của bầu trời cao xanh, phảng phất đâu đó mùi thơm của lúa nếp chín, của khói đốt đồng, của những chõ xôi nếp mới mà hầu như gia đình nào cũng ngóng chờ sau bao vất vả đồng áng. Và các xóm đạo đã thấy bừng lên màu sắc của ngày lễ Thánh, dù dịp Noel còn lâu mới tới.

Cờ hội của mùa cũ được thay, đám cây trong vườn cảnh của xứ đạo lại được xén tỉa gọn gàng, những cảnh sắc ấy hoà quyện cùng đám rơm phơi ngoài mặt đường và những sân phơi thóc vàng rực lên màu lúa mới gặt, có sức cuốn hút mạnh với con người. Không phải ai cũng thích cảnh sắc nông thôn, nhưng chỉ một lần được ngắm nhìn sự no đủ của miền thôn dã, chắc hẳn sẽ hiểu ra thế nào là sự bình dị của hạnh phúc trong đời sống xóm làng. Chỉ vậy thôi, trong nhà thóc đầy bồ, ngoài đường có trẻ em mặc áo mới, vậy là đã đủ tiêu biểu cho cảnh đời sung túc.

Ngược dòng lịch sử, dải đất duyên hải Thái Bình, Nam Định vốn ngập trong nước biển mặn mòi. Chỉ sau khi vị quan thanh liêm mà cũng rất đỗi tài hoa – uy viễn tướng công Nguyễn Công Trứ – cho chiêu tập dân lưu tán, đắp đê lấn biển, rửa mặn cho cả vùng đồng bằng duyên hải; để ngày nay hậu thế còn tôn thờ và ghi nhớ công danh thì đất mặn thuở xưa thành đất ngọt. Và cái chí ngất trời của vị danh tướng, nhà quân sự, nhà kinh tế, nhà thơ tài danh quê xứ miền Trung còn tạo phúc ấm cho hậu thế sau hàng trăm, hàng ngàn năm.

Có đi sâu vào các xã ven biển của Hải Hậu hay Giao Thuỷ, ngắm những nóc nhà thờ lô xô sau hàng phi lao, nhìn những tháp chuông cao vút lên nền trời xanh mới thấu hiểu công sức của biết bao thế hệ đã bỏ ra để có vùng quê trù phú hiện tại.

Nét duyên ngầm vùng duyên hải

Cũng kỳ vĩ như công trình nhà thờ đá Phát Diệm vùng Kim Sơn (Ninh Bình) đã được dựng nên từ vùng đầm lầy đất trũng bởi sự sùng tín và tiền bạc của giáo xứ, dải đất tuyệt đẹp ven biển của Nam Định đã hình thành bằng công sức của hàng chục thế hệ cần mẫn. Ít được biết tới như những bờ cát trắng của miền Trung, chưa từng đón tour theo kiểu nhà vườn ở miền Tây Nam bộ, những xã duyên hải Nam Định ẩn chứa nét duyên ngầm, mặn mòi như nàng thôn nữ chưa từng đi xa, vậy mà hút hồn khách viễn phương chỉ sau một lần gặp gỡ.

Phảng phất nét thương hải tang điền ở một mái nhà thờ hoang tàn do sự xâm nhập của nước biển, tuy bỏ không nhưng vẫn còn nguyên đường nét trang trí ở đầu hồi. Dọc theo con đê biển của huyện Giao Thuỷ, ta bắt gặp những làng cổ thuần nông, đan xen là các cánh đồng muối. Lúa và muối kề nhau, điều này thật lạ, bởi nghề lúa vốn rất kỵ nước biển xâm nhập. Nghề muối ở đây khác với vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, diêm dân dong thuyền chở muối thô dọc theo con kênh nhỏ, và không hiểu sao toàn thấy phụ nữ chống thuyền. Hình ảnh thật lãng mạn của cuộc sống vùng quê.

Cũng là làng quê với cầu ao, giếng nước, sân đình, cũng chất phác với ruộng lúa, bờ kênh, nhưng Nam Định còn chứa đựng những đường nét kiến trúc của phương Tây qua tháp chuông xứ đạo, qua những pho tượng đá quái thú, tượng thánh của Thiên Chúa giáo và các hoạ tiết Gothique đầy lãng mạn trong các nhà thờ cũ và mới. Không thể biết đâu là điểm tận cùng của sự ngạc nhiên khi bỏ công lặn lội vào các vùng sâu, bởi ở đâu đó, phía sau luỹ tre xanh còn ẩn chứa nhiều điều kỳ lạ.

Một bộ sưu tập cổ vật quý bỗng xuất hiện trong một làng thuần nông, những chiếc đồng hồ khổng lồ vốn xưa kia chỉ dùng cho nhà thờ hiện hữu tại một tiệm càphê nhỏ… Những mái nhà thờ lô xô chạy theo mép biển, những cánh đồng muối và con thuyền chở muối êm đềm trôi trên dòng kênh Hải Thịnh… cảnh sắc mang một vẻ bình yên thật thanh khiết và hình như càng sống lâu trong hương biển mặn mòi, ta càng có cơ hội đắm mình vào niềm hạnh phúc giản đơn của vùng quê thuần phác này.

Du lịch, GO! - Theo Thái A (SGTT.VN), internet

Cải mèo Mộc Châu

Một người bạn vừa đi Mộc Châu (Sơn La) về gọi điện bảo: “Anh mua cho cô ít cải mèo Mộc Châu đấy, cô sang lấy về luộc mà ăn”. Vâng vâng dạ dạ hẹn lịch sang lấy mà như mở cờ trong bụng.

< Cải mèo trồng ở Mộc Châu.

Mới nghĩ đến việc sắp có món cải mèo Mộc Châu luộc, chấm nước mắm dầm trứng ăn đã thấy lòng vui phơi phới lên cả rồi. Người ta vẫn hay buồn cười vậy đấy, nhiều khi những thứ cao lương mỹ vị thì ít nhớ, nhưng những món ăn dân dã, bình dị thì lại cứ vấn vương. Mà cải mèo Mộc Châu chấm mắm dầm trứng là một món ăn như thế.

Tôi đi Mộc Châu lần đầu năm 2010, dọc quốc lộ 6 quanh khu vực thị trấn Mộc Châu, thấy bà con dân tộc bày bán la liệt hai bên đường những bó rau cải trông lạ mắt. Cây cải dài chừng 40-50cm, bó thành từng bó lớn, lá cải có bản dài, màu xanh đậm, mép lá có nhiều răng cưa nhỏ, loăn xoăn. Giống cải này ở dưới xuôi không có, bèn lân la hỏi chuyện. Ra là cây cải mèo đặc sản Mộc Châu.

Cải mèo Mộc Châu chỉ có vào mùa đông và mùa xuân. Thứ cải này vốn được bà con ở đây trồng tự nhiên quanh các nương, rẫy để phục vụ nhu cầu của gia đình và thết đãi khách khứa. Giữa thu đến cuối thu, mang hạt giống ra rải quanh vườn, quanh rẫy mà chẳng cần rào giậu, luống bãi, cũng chẳng cần chăm bón, tưới tắm gì. Cứ thế, cây cải sẽ tự mình chắt chiu lấy nhựa sống, lấy dinh dưỡng từ những khe đất khe đá, từ cái sương lạnh của vùng núi Tây Bắc mà lớn lên. Ấy thế mà cây cải cứ xanh, cứ cao, cứ non mượt non mà, nhìn thôi đã thích mắt.

Vài năm trở lại đây do nhu cầu ăn cải mèo của khách du lịch thập phương tăng cao, nên bà con dân tộc đã biết trồng để bán, để kinh doanh, trồng thành hàng, thành luống. Dù vậy cách thức trồng vẫn còn nhiều thô sơ nên cải mèo Mộc Châu vẫn giữ được những hương vị đồng nội hoang dã của nó.

Lân la hỏi chuyện, nghe bà con chào mời, thế là mua hai bó cải về luộc ăn. Lúc đầu cũng chỉ mua vì mình hỏi han mãi mà không mua thì… ngại với các bà, các chị. Ấy vậy mà về, ăn cái món cải mèo Mộc Châu luộc chấm với nước mắm dầm trứng ấy, ăn một lần thôi mà thành… ghiền. Từ đó trở đi, cứ tới mùa, có ai đi Mộc Châu cũng phải nhờ mua giúp để thưởng thức.

Cải mèo luộc chấm nước mắm dầm trứng chế biến hết sức đơn giản. Mua cải về, tách từng bẹ rau ra rửa sạch rồi xắt ra thành từng khúc dài 4-5 cm, cho vào luộc với nước đã đun sôi già. Nêm thêm vài hạt muối trắng và lật trở đều tay cho rau xanh màu. Đập thêm vài lát gừng cho thơm rau. Rau vừa chín tới thì vớt ra, bày lên đĩa.

Luộc hai quả trứng gà rồi dầm với nước mắm hoặc nước tương (xì dầu). Và ăn nóng. Ăn tới đâu là biết liền tới đó. Cái vị đăng đắng, ngăm ngăm vừa phải của rau quyện với vị ngọt, vị thơm, vị mặn của xì dầu, rồi là cái béo của lòng đỏ trứng gà… Tất cả hòa thành một thứ hương vị rất mê hoặc, ăn một miếng rồi lại muốn ăn thêm, ăn một lần rồi lại muốn ăn thêm lần nữa…

Ăn cải mèo Mộc Châu ấn tượng nhất là cái vị đăng đắng ngăm ngăm của nó. Đăng đắng vừa phải, vừa đủ. Đăng đắng qua rất nhanh để rồi khi qua đi, lại cảm nhận rõ thêm cái ngọt ngào, tươi non, mềm mại của rau; ngọt ngào, đậm đà của nước chấm. Cái vị đăng đắng, ngăm ngăm ấy, đã ăn một lần thì chẳng dễ gì quên được.

Mùa đông, ăn cải mèo Mộc Châu luộc chấm mắm dầm trứng, vừa ngon, vừa bổ mà lại mát lòng mát dạ.
Cải mèo Mộc Châu ngoài ăn luộc còn có thể dùng ăn lẩu, xào với thịt hun khói, thịt gà… món nào cũng đặc sắc và có hương vị riêng. Nhưng ăn luộc chấm mắm dầm trứng vừa bình dị mà lại giữ được nhiều hương vị của cây cải mèo Mộc Châu nhất.

Một mùa hoa Mộc Châu nữa lại đến. Nào những cánh đồng cải trắng muốt mênh mông trong sương sớm, nào những lối mòn nở dã quỳ rực rỡ, nào những đồi chè xanh ngát bạt ngàn… Và mùa cải mèo Mộc Châu cũng đã tới. Nếu bạn đi Mộc Châu ngắm hoa, ngắm cảnh, lúc về đừng quên mua cho mình mấy bó cải mèo về thưởng thức. Đó cũng là một món quà đáng nhớ của núi rừng Tây Bắc đấy!

Du lịch, GO! - Theo Iris (TTO), internet

Du khách đến Mộc Châu thường tìm mua những đặc sản như chè, sữa, bê tươi… BQL xin giới thiệu một số địa điểm mua các loại đặc sản này để du khách tiện mua sắm.
Lưu ý: Thứ tự được xếp theo chiều từ Sơn La về Hà Nội

1. Cụm mua sắm số 1:
- Địa điểm: Ngã ba 73 (gần thị trấn Mộc Châu )
- Các cửa hàng:
+ Năm Thảo: chè, sữa, táo mèo, ngô, bánh khảo, kẹo dồi, thịt trâu, bò hun khói.
+ Mộc y quán: thịt dê các món; chè, sữa, táo mèo, ngô, bánh khảo, kẹo dồi, mật ong, phấn hoa

2. Cụm mua sắm số 2:
- Địa điểm: Tiểu khu 32 + Bó bun
- Các cửa hàng: Anh Đông, Cường Huyền, Hùng Mừng, Hoa Khiêm:
+  Chè, sữa, táo mèo, ngô, bánh khảo, kẹo dồi, rượu ngô,
+ Các loại thuốc đặc hiệu chữa bệnh: dạ dày, trĩ, viêm xoang…

3. Cụm mua sắm số 3:
- Địa điểm: Ngã ba 70
- Các cửa hàng: Thân Gái, Vân Thảnh, Liên Thao, Tân Thủy:
+ Chè, sữa, táo mèo, ngô, bánh khảo, kẹo dồi, chẳm chéo, rượu các loại.
+ Điểm dừng đón khách đi Hà Nội hoặc Sơn La.

4. Cụm mua sắm số 4:
- Địa điểm: Ngã ba Vườn Đào (ngã tư rẽ đi Thông Cuông, hoặc đồi chè thị trấn)
- Các cửa hàng: Sen Tuấn, Nga Lộc, Thanh Trường, Hiền Sang,:
+ Chè, sữa, táo mèo, ngô, bánh khảo, kẹo dồi, chẳm chéo, rượu các loại.
+ Đào, mận tươi.
+ Điểm dừng đón khách đi Hà Nội hoặc Sơn La.

5. Cụm mua sắm số 5:
- Địa điểm: Tiểu khu Chiềng Đi
- Các cửa hàng: Quán 70, quán 181, quán 64, quán Quang Bắc:
+ Chè, sữa, táo mèo, ngô, bánh khảo, kẹo dồi, chẳm chéo, rượu các loại.
+ Đào, mận tươi.

Xây resort 4 sao ở Bản Giốc

Sáng ngày 8/12/2012,  tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh (Cao Bằng), Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) làm lễ động thổ khu du lịch cao cấp Sài Gòn - Bản Giốc đạt tiêu chuẩn 4 sao với tổng diện tích hơn 31,15 ha, chia làm 2 khu chính, trong đó gồm khu tiếp giáp tỉnh lộ 206 và là khu vực kề cận thác.

Nhìn trực diện ra thác Bản Giốc, resort 4 sao này có khách sạn 60 phòng ngủ, 24 khối bungalows, nhà hàng, khu hội nghị, hội thảo, thể thao, vui chơi giải trí, spa, cùng các khu vực hoạt động cắm trại, sinh hoạt ngoài trời. Dự kiến, giai đoạn 1 sẽ đưa vào khai thác cuối năm 2013, với tổng kinh phí đầu tư khoảng 170 tỷ đồng.

Khu nghỉ dưỡng cao cấp quy mô 60 phòng và 24 khối bungalows sẽ nhìn ra thác Bản Giốc nổi tiếng. Dự kiến cuối năm 2013, resort 4 sao này sẽ bắt đầu đón khách.

Ông Trần Hùng Việt, Tổng giám đốc Saigontourist cho hay, công trình lấy cảm hứng và kiến trúc truyền thống của đồng bào địa phương sẽ tạo nên bản sắc của văn hóa Việt Nam, của vùng biên giới phía bắc, đặc biệt của Cao Bằng.

"Sài Gòn - Bản Giốc Resort là dự án đầu tiên nằm ở vị trí vừa có thế mạnh thiên nhiên phong cảnh, văn hóa bản địa, vừa mang ý nghĩa đặc biệt về mặt lịch sử, nơi gắn cột mốc biên giới thiêng liêng của Tổ quốc", ông Việt nói.

Thác Bản Giốc nằm giữa biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Theo đường phân chia cột mốc 836, phía Việt Nam sở hữu một nửa thác chính và phần thác phụ; còn Trung Quốc sở hữu nửa thác chính phía bờ bắc sông Quây Sơn. Mặt sông phía chân thác thành điểm khai thác du lịch chung giữa hai nước.

Du lịch, GO! - Tổng hợp

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 4: Tả ngạn Mỹ Thanh và con rạch Tổng Cán

Khi đọc những tài liệu về một dòng sông, chúng ta thường bắt gặp hai từ: tả ngạn và hữu ngạn. Tả là bên trái, đối lập với bên phải. Còn trên một dòng sông, tả ngạn là bờ sông bên phía tay trái, ngược lại với bên phải-hữu ngạn của con sông.
Góc nhìn và cách gọi này theo hướng dòng nước chảy từ trên nguồn xuống. Phải chăng bắt đầu từ một quan niệm có tính chất luân lý: Tất cả đều bắt đầu từ nguồn cội!? Theo ranh giới địa lý hiện nay thì hầu như toàn bộ huyện Trần Đề nằm ở tả ngạn sông Mỹ Thanh.

Sách Dư địa chí Sóc Trăng năm 1904, trong phần Sông Rạch tự nhiên có đoạn viết: “Miền hạ lưu sông Mỹ Thanh có hai con rạch khá quan trọng chảy vào, đó là rạch Tầm Vu thông sang Ba Xuyên ở phía trên và rạch Tổng Cán chảy từ nam lên bắc trên độ dài 15km. Còn có rạch Gòi và rạch Cô Ảo? chảy vào khoảng giữa cửa sông Mỹ Thanh”.

Tấm bản đồ cũ và... ông Tà Mơn

< Bản đồ nông nghiệp Sóc Trăng năm 1891.

Chuyến phiêu du khám phá vùng đất tả ngạn Mỹ Thanh của chúng tôi bắt đầu từ con rạch Tổng Cán. Dựa trên tấm bản đồ được vẽ vào năm 1891 thì đây là một con rạch khá lớn.

Địa danh ghi trên tấm bản đồ này ghi theo phiên âm là Tong cane cùng một điểm tròn đánh dấu vị trí của khu dân cư... Dùng bản đồ cũ có cái lợi là chúng tôi có thể dễ dàng so sánh và cảm nhận được sự thay đổi của những vùng đất mà chúng ta đặt chân đến.

Điều thú vị đầu tiên mà chúng tôi nhận thấy ở đây là ở tấm bảng tên chiếc cầu bắc qua đầu con rạch đề tên là cầu Trà Mơn? Trong khi với người địa phương thì lại gọi là rạch Tà Mơn.

Còn ở Dư địa chí Sóc Trăng năm 1904 và trên cả bản đồ in cùng năm lại không hề ghi nhận những địa danh này? Lời giải đáp đã có ngay từ vị thượng toạ trụ trì ngôi chùa Sê rây Ta Mơn cổ kính nằm ngay đầu con rạch. Thượng toạ Trần Văn Tha (th.s Phật học) bắt đầu bằng câu chuyện cổ tích về 3 anh em đã có công khai phá vùng đất này. Người anh lớn có tên là Pích, người em có tên là Nôn và người em út có tên là Mơn. Mỗi người bỏ công sức khai phá một vùng đất hoang, tạo lập nên 3 vùng đất mà những địa danh vẫn còn gắn liền với tên của họ cho đến tận ngày nay.

- Trong 3 anh em thì ông Mơn không có con cái nên sau khi mất, ông đã hiến toàn bộ đất đai của ông cho bổn sóc để dựng nên ngôi chùa này. Chính để nhớ công ơn của người đã khai phá đất nên bà con Khmer ở đây dùng tên ông để gọi tên ngôi chùa. Vì ngôi chùa nằm ngay trên con rạch nên dân gian vẫn dùng luôn tên này để gọi con rạch. Ngày trước thực ra vùng đất này rất thấp, nhiều lung bàu...

Như vậy, có thể tạm khẳng định rằng: con rạch mà người dân nơi đây vẫn quen gọi là rạch Tà Mơn có tên chữ trên bản đồ hành chính là rạch Tổng Cán!? Ngày trước, con rạch như một ranh giới tự nhiên phân chia rõ rệt hai vùng đất: một bên là phèn mặn nặng cùng với những cánh rừng thấp ngập nước - một bên là những vùng đất thuộc.

... đến “Thần nông lắt” ở Liêu Tú

Ngắm những cánh đồng lúa dọc theo hai bờ con rạch Tổng Cán đang lên xanh, hẳn ít ai biết rằng cũng chỉ mới gần đây thôi-vào những năm 80 của thế kỷ trước, chuyện làm ra hạt lúa của nhà nông nơi đây không phải là dễ. Đồng Tổng Cán, giồng Chac ngày xưa vốn là đồng cầm trâu, nhiễm phèn, mặn nặng... vốn chỉ có cỏ Năn là chủ yếu, cánh đồng chỉ làm được 1 vụ lúa mùa nhờ nước trời là chính.

< Tác giả trò chuyện cùng Thượng toạ Trần Văn Tha (th.s Phật học), trụ trì ngôi chùa Sê rây Ta Mơn.

Qua quá trình tìm tòi của mình, vị thượng toạ trụ trì chùa Sê rây Ta Mơn cũng cung cấp cho chúng tôi một thông tin khá thú vị về một kinh nghiệm sản xuất của cư dân nơi đây khi xưa là: “Muốn xuống giống, bắt đầu một vụ lúa chính thức thì bà con mình luôn để ý xem lá cây Giá đã xuống màu đỏ rực chưa. Nếu là cây Giá xuống màu đồng loạt thì có thể yên tâm xuống giống vì lúc này mùa mưa đã chính thức bắt đầu, ít phải lo lắng vì hạn bà chằng”.

Làm lúa ngày xưa cực khổ là vậy, nhưng vì đồng rộng mênh mông, lúa làm khi ấy “lấy diện tích để bù năng suất” nên nhà nào cũng không phải lo lắng nhiều chuyện thiếu lúa, thiếu gạo... Còn thức ăn thì cá, tép dưới sông lúc nào cũng sẵn nên khỏi phải lo.

Ông Đinh Thiên Cần - Nguyên Bí thư xã Liêu Tú những 80 của thế kỷ XX nhớ lại một thời bắt đầu chuyển qua làm lúa tăng vụ ở xứ này:

- Những năm đó lúa ở vùng này làm chỉ cần 14-15 giạ là kể như trúng rồi đó. Vậy mà năm 82-83 tụi tui làm “thần nông lắt”... tính như bây giờ phải trên 4 tấn. Giống gì hả? Ai biết là giống gì... chỉ biết nó là lúa thần nông, rồi được mấy nhà nông đi “lắt” từng bông, từng bông về làm giống. Chính từ cái “thần nông lắt” này mà phong trào thuỷ lợi để làm lúa tăng vụ ở vùng này phát triển mạnh.

Những đồng tiền cổ ở Tổng Cán...

Ở gần cuối con rạch là một khu dân cư khá sầm uất - đó chính là ấp Tổng Cán. Tổng Cán nằm trên một con giồng và tên dân giã mà người vùng này vẫn gọi là xóm Phố với phố Trên, phố Giữa và phố Dưới. Hẳn đây là một khu dân cư được hình thành từ khá sớm trong quá trình khai phá vùng đất này vì hôm nay, chúng tôi tìm đến ông Tám Sển (Quách Văn Sển (65 tuổi)) - một cư dân cố cựu ở vùng này và cũng là người đã đào được 1 hũ tiền cổ cũng ở trên con giồng này, đoạn giồng cạnh bên Long Thuyền Tự. Hũ tiền đựng những xâu tiền có niên hiệu Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Câu chuyện mà ông Tám kể đã giúp chúng tôi hình dung rõ nét hơn một khung cảnh đặc thù của vùng tả ngạn Mỹ Thanh thời mà người xưa bắt đầu đến khai phá đất, lập làng...

< Liêu Tú ngày mùa (chụp năm 2011).

- Hồi xưa lúc tui còn nhỏ xíu thì con đường chạy trên con giồng này không nằm ở đây. Nó nằm chệch ra mé ngoài một chút. Dọc theo con đường lúc đó tui đi học ở trường làng thì cứ khoảng năm chục-một trăm mét là có một cây xoài lớn mà mấy lão tiền bối trồng để người qua lại có bóng mát nghỉ chân. Vùng này hồi đó nghe nói có cọp nhưng tới thời của tui... những năm 40 đó... thì tui hết thấy. Nhưng heo rừng và khỉ thì tui gặp hoài.

... và con rạch của hoa sen

Rạch Tà Mơn vào những năm 2004-2006 có lẽ là một trong những cảnh đẹp của làng quê Sóc Trăng thanh bình. Xem lại những bức  ảnh chụp tại rạch Tà Mơn vào đầu năm 2006 mà tôi đã có dịp đi cùng nhóm bạn đã khiến nhiều người ngây ngất.


< Rạch Tà Mơn.

Con rạch với bạt ngàn hoa sen chen lẫn các rặng dừa, bần, dừa nước khiến cho phong cảnh ở đây nên thơ vô cùng. Vậy nhưng ở thời điểm mà chúng tôi có mặt thì thật tiếc, con rạch vừa được nạo vét trước đó hơn 2 tháng nên những bờ sen chưa thể mọc lại kịp. Chuyến rong ruổi theo con rạch Tổng Cán của chúng để tìm những đám sen của ngày xưa đã có kết thúc thật thú vị khi gặp bà Trần Thị Mỹ Lệ (năm Lệ). Qua câu chuyện của chính bà Lệ và những đám sen hồng ở đầu rạch Tổng Cán.

- Cũng nhờ sen không đó. Chỉ với vạt sen cặp bờ rạch này với gần 1 công rưỡi sen ở miếng lung trước nhà mà nuôi 3 đứa con ăn học thành người đó! Chỉ có ngó sen thôi đó. Đứa lớn bây giờ làm kế toán ở Sóc Trăng, thằng con trai thứ 2 đang học năm tư đại học, còn nhỏ út năm nay cũng thi đại học.

- Nhắm em nó thì đậu không hả dì? Tôi hỏi:
- Chưa có kết quả, nhưng năm học rồi là học sinh giỏi của Trường Lịch Hội Thượng à nghen!


< Phong cảnh rạch Tà Mơn năm 2006.

Quanh chuyện cây sen, ngó sen, củ sen, bà Lệ còn hào hứng kể cùng tôi chuyện từng là “người mẫu chụp hình” với hoa sen bên con rạch này. Quãng năm 2004-2005, có 3 ông “chụp hình” mang một mớ áo dài vô đây nhờ dì Lệ chèo xuồng, hái sen... ôi đủ thứ hết để chụp hình. Tiếc là những tấm ảnh ấy các con của bà Lệ đã cất hết ở đâu đó nên tôi không được chiêm ngưỡng chúng.

Đến giờ này thì bà Năm Lệ chẳng còn nhớ nổi tên của 3 ông thợ “chụp hình” vì thời gian đã non cả chục năm rồi còn gì? Nhưng tôi tin chắc một điều rằng khi ấy hẳn bà Lệ sắc sảo lắm và những đoá sen trải dài dọc theo rạch Tà Mơn đã tạo nên một khung cảnh nên thơ lắm!? Nếu không vậy thì làm gì có chuyện những nghệ sĩ nhiếp ảnh phải lặn lội xuống tận đây để sáng tác chứ?


Còn tiếp

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 1: Mênh mang Mỹ Thanh.
Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 2: Ra biển te ruốc và phạ đáy trên cửa Mỹ Thanh.
Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 3: Giếng Ngự, mộ Hoàng Cô và con Cọp cuối cùng ở Giồng Sát.
Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 4: Tả ngạn Mỹ Thanh và con rạch Tổng Cán.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 5: Rạch Gòi - Lịch Hội Thượng và những ngôi chùa chứng tích.
Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 6: Đất và người trên Cánh đồng Năn huyền thoại.

Du lịch, GO! - Theo Tuyên Giáo Sóc Trăng

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 3: Giếng Ngự, mộ Hoàng Cô và con Cọp cuối cùng...

Từ câu chuỵện mà chú Sáu Tòng đã kể lại cùng chúng tôi ở Lăng Ông Mỹ Thanh, chúng tôi quyết định phải đến thăm Giếng Ngự, tương truyền đây là giếng nước do chính Chúa Nguyễn Ánh dùng gươm đào tìm mạch nước ngầm khi bị dồn đến đường cùng.  

Giếng Ngự, mộ Hoàng Cô

Huyền sử của vùng đất này kể rằng: Chúa Nguyễn Ánh thời còn “ba chìm bảy nổi” đã cùng đoàn tùy tùng nhiều lần phải vào Nam để tìm sinh lộ. Trong một lần buộc phải lui ra phía biển hòng tìm đường ra Côn Lôn, Phú Quốc. Khi cả đoàn vừa đến được cửa sông Mỹ Thanh thì hết lương thực và nước uống.

Cả vùng rừng rậm, những nổng cát chạy dài... mùa khô chỉ toàn là nước mặn. Chống gươm trên bãi, ngửa mặt lên trời chúa buông lời cảm thán: “Nếu khí số nhà Nguyễn chưa tận thì xin trời hãy cho chúng tôi một giếng nước ngọt”.

Rồi Chúa dùng thanh gươm mang theo bên mình để đào vào lòng bãi cát. Lạ lùng thay, nước ngọt đã rịn ra từ lòng đất và cứ thế chảy mãi, cứu sống cả đoàn người. Cái giếng nước ấy người dân vùng này gọi là Giếng Ngự. Những năm trước và cho đến mãi gần đây, giếng nước này vẫn là giếng nước ngọt duy nhất cung cấp nước ngọt cho cư dân vùng giồng Mù u và xóm chài Mỹ Thanh, xóm phủ Yết ở cách đó hơn 1km. Bên cái giếng bây giờ đã được mở rộng, chú Bảy Linh nói:

< Giếng Ngự toàn cảnh.

- Hồi trước thì cái giếng này ngọt quanh năm. Coi như là mãn mùa... nhưng vài năm gần đây xung quanh có nhiều người làm vuông nuôi tôm cả trong cả ngoài con giồng này nên coi bộ có mọi vô nhiều. Với lại cái nổng cát xưa giờ cũng gần hết nên mùa nắng nước mặn cũng lừng vô giếng chút ít.

Chú Sáu Tòng thì hào hứng nhắc chuyện xưa:

- Hồi nhỏ tui cũng không ít lần lén lội xuống cái giếng này để ra mấy cái miệng giếng! Hồi đó ít nhất ở dưới có 3 miệng nước đẩy nước ngọt lên... mát lạnh cả chân.

Tôi hỏi: “Vậy là hồi xưa chỉ cần qua giếng Ngự là đã ra tới biển”? Ừ! Vừa phụp xuống qua giồng Mù U là đã nhìn thấy biển. Biển ở kế bên chớ không phải như bây giờ rừng đã phủ bít hết rồi.

Cũng theo lời truyền khẩu qua nhiều thế hệ ở vùng này thì trong đoàn người theo Nguyễn Ánh chạy nạn có một đoàn tuỳ tùng, gồm cả vương tôn, phi tần, võ tướng. Do giông bão nên một trong những chiếc thuyền này trôi giạt vào cửa sông Mỹ Thanh. Trên chiếc thuyền có một vị võ tướng, một vài quân lính theo hộ vệ Công chúa Mỹ Thanh cùng một người cô của Chúa Nguyễn Ánh. Nhóm người này dừng lại ở đây, một đồn luỹ cũng được thiết lập ở nơi đây với dấu tích là địa danh Giồng Đồn. Đây chính là khu vực ngay dưới chân cầu Mỹ Thanh ở phía Vĩnh Châu. Tiếc rằng theo dòi bồi-lở của dòng sông, những tảng đá hộc, đá ong... những mảnh vỡ của tô, dĩa, chén.v.v. đã theo dòng thời gian mà trôi theo dòng chảy của dòng Mỹ Thanh!? Duy nhất chỉ còn lưu lại dấu tích là cái địa danh “Giồng Đồn” mà cư dân ở đây ai cũng rành.

< Tác giả trò chuyện cùng ông Triệu Vinh Quang quanh bài vè con cọp tại vườn sao cổ thụ Hải Phước An Tự.

Lại kể tiếp chuyện xưa: Do không hợp phong thổ lại ăn uống thiếu thốn nên Công chúa Mỹ Thanh, cùng người cô của Nguyễn Ánh, rồi cả viên võ tướng cũng lần lượt mắc bạo bệnh rồi mất và được chôn cất tại đây...

Khi binh Tây Sơn kéo đến truy kích khiến đoàn người buộc phải bỏ trốn. Ngôi mộ của vị công nương này được giao cho một người Hoa tên là Yết trông nom. Đến khi thống nhất được giang san, lên ngôi vua với Đế hiệu Gia Long, nhớ nghĩa xưa, nhà vua đã ban thưởng cho chú Yết rất hậu, phong cho làm tri phủ (tri phủ hàm), được quyền thu hưởng hoa lợi từ tất cả các cơ sở đánh cá suốt dọc dài theo bãi biển, tính từ vàm Mỹ Thanh ra đến cửa biển. Tên của Phủ Yết còn được đặt cho dải giồng cát nơi chú Yết đã ở. Giồng cát này ngày nay vẫn còn nhưng đã lọt thỏm vào giữa dải rừng ngập mặn Mỹ Thanh.

Ngôi mộ của vị công nương xấu số cũng được xây dựng lại. Ngày nay, dấu tích một Hoàng Cô vẫn còn ở Xâm Pha, hàng năm vẫn có khá đông người đến viếng bái vào tiết Thanh Minh. Chỉ tiếc rằng câu trả lời cho câu hỏi: Ai là người thật sự nằm dưới nấm mộ kia thì vẫn chưa có được lời giải đáp. Dòng thời gian vô tình vẫn hằng ngày tiếp tục bào mòn đi dấu tích của ngôi mộ cổ.

Chúng tôi đã có dịp trao đổi cùng Tiến sĩ sử học Mai Thanh Sơn - Viện Khoa học- Xã hội Việt Nam quanh những truyền thuyết này. Ông khẳng định:

- Những câu chuyện về truyền thuyết luôn ẩn chứa những gì rất bí hiểm nhưng cũng lại rất đời thường. Nó đời thường ở chỗ: Nó luôn có tác dụng rất lớn đối với cộng đồng cư dân tại chỗ. Bởi vì truyền thuyết luôn là những câu chuyện đẹp. Nó mang lại cho người ta niềm tự hào, thể hiện lòng tự trọng, mang lại cho cộng đồng cư dân nơi ấy một niềm tin nhất định. Và trên hết, truyền thuyết có tính cấu kết cộng đồng rất lớn. Tôi hình dung câu chuyện ở Mỹ Thanh, Vĩnh Châu hay cả ở những vùng đất khác cũng thế thôi! Nó đều có những lý do nhất định để cho những truyền thuyết nảy nở và phát triển và có tác động lại cộng đồng.

Có thể nói tác động lớn nhất làm làm giàu thêm vốn văn hoá cho những người ở đây. Đây là điều không thể phủ nhận. Tác dụng thứ hai là với những truyền thuyết như thế thì người dân tự xây dựng nên một bề giày truyền thống-cố kết họ lại với nhau. Câu chuyện về Giếng Ngự, mộ Hoàng Cô... có thể có ai đó nói rằng đó không phải là Giếng Ngự? Nó chỉ là một cái giếng dân gian mà ai đó huyền thoại nó lên? Chuyện đó cũng chẳng sao cả nếu như người dân ở đây cứ tin... và nó làm cho mọi người ở đây tự trọng hơn, tự hào hơn đối với quê hương.

Một câu hỏi khác cũng khá thú vị cho những nhà sử học là trong quá trình ghi hình những thước phim, chúng tôi được biết thêm một ngôi mộ cổ khác, nằm cách mộ Hoàng Cô khoảng gần 1 km tính theo đường chim bay. Ngôi mộ này có quy mô nhỏ hơn mộ Hoàng Cô nhưng còn khá nguyên vẹn, chỉ tiếc là đá ong trong quá trình phong hoá đã hoàn toàn không còn giữ lại được bất kỳ nét chữ nào trên bia mộ còn khá nguyên vẹn, khiến cho việc truy tìm tung tích của người nằm dưới ngôi mộ này trở nên cực kỳ khó khăn đối với những người lãng du như chúng tôi. Chúng tôi cũng được biết thêm rằng, cả hai ngôi mộ cổ này đều đã là mục tiêu của bọn đào mộ trộm tìm báu vật vào những năm 70 của thế kỷ XX. Đây phải chăng là nguyên nhân khiến cho mộ Hoàng Cô đã bị tàn phá? Chú Lâm Tấn Quang (71 tuổi) ở ấp Huỳnh Kỳ, xã Vĩnh Hải vẫn nhớ như in về bọn đào mộ trộm năm nào và đây cũng là câu chuyện mà nhiều người dân ở vùng này rành rẽ đến cả tên người ‘’cầm đầu ‘’ năm đó:

- Năm đó giải phóng đâu 1-2 năm rồi à! Đêm đó cũng cỡ 11- 12 giờ đêm. Tui đang nằm trong nhà thì nghe tiếng đào đất hậm hịch, hậm hịch... Tui ra thấy có tới 4 người lận. Tui hỏi: mấy ông làm gì đây? Mấy ông đào làm gì? Thì mấy ổng liền rủ mình đào đồ, kiếm đồ chia! Tui nói hông! Mấy ông đào thì tui hổng cản nhưng mà cái chuyện này theo hiểu biết của tui thì cái mộ này sau nhà nước cũng sẽ tầm thôi! Giờ mấy ông muốn đào thì mấy ông làm biên bản, ký tên vô đó rồi mấy ông muốn làm gì thì làm. Đặng sau này nhà nước có xuống sưu tra, kiếm hỏi... mộ này ai đào thì tui đưa biên bản này ra! Tới đó thì mấy ổng hổng dám đào luôn và đi luôn từ đó đến giờ. Hàng năm, tui vẫn tảo mộ, thanh  minh cho người ta. Mộ nằm trên đất của mình mà.

Phước Hải An Tự và chuyện con cọp cuối cùng ở Vĩnh Châu

< Nghiên cứu sinh Huỳnh Vũ Lam đang cố gắng tìm lại dấu tích văn tự trên bia mộ Hoàng Cô.

Đến vùng đất này, thiết nghĩ cũng cần đến thăm Phước Hải An Tự, một ngôi chùa Việt cổ ở giồng Vàm Sát xưa, tức là khu vực xã Lạc Hoà ngày nay. Đến đây, ta sẽ được nghe câu chuyện về con cọp cuối cùng ở Giồng Sát, xứ Vĩnh Châu, về một thời khó khăn, cực nhọc của những người khai phá vùng đất mới.

Tính đến nay, Phước Hải An Tự đã trải hơn 160 năm với 6 đời trụ trì. Đây có thể xem là một ngôi chùa do người Việt lập nên có niên đại lâu đời nhất ở vùng này. Ngay từ khi mới lập chùa cho đến nay, các vị sự trụ trì chùa đã cho trồng rất nhiều cây sao, vừa để tạo bóng mát, vừa để lấy gỗ xây dựng.

Khi xưa, dưới những tán lá sao rợp mát, mái ngói rêu phong của Hải Phước An Tự là khung cảnh cổ kính, nên thơ. Hiện nay, ngôi chùa dù đang được xây dựng lại nhưng khung cảnh vẫn không khác xưa là mấy. Có chăng chỉ là toà tháp vươn cao khỏi những tán lá sao. Lên đỉnh tháp, cả một vùng rộng lớn của Xâm Pha, Giồng Mù U, Hồ Bể đều nằm trong tầm mắt. Biển vẫn thật gần.

Chuyện về cặp tượng ông Cọp được đặt ở toà tháp này cũng đã cho chúng ta ngày hôm nay biết được những gian khó của người mở đất ngày xưa. Rồi chuyện kể về con cọp cuối cùng ở Giồng Sát đến nay vẫn được lưu truyền qua một bài vè con Cọp khá ngộ nghĩnh mà hiện nay, chỉ còn vài người cao niên ở xứ này con nhớ. Đó là vào thời điểm năm 1927, khi vùng này vẫn còn hoang vu với những dải rừng sác rậm rạp. Những chuyện xưa, tích cũ ở xứ Vàm Sát xưa thì nay chắc chỉ có ông Triệu Vinh Quang (73 tuổi) là còn nhớ khá nhiều. Dưới tán vườn cây sao cổ thụ ông vui vẻ đọc để tôi chép lại bài vè Con Cọp* và chuyện ông Tà Sết.

< Toàn cảnh Xâm Pha và vườn sao cổ thụ nhìn từ đỉnh tháp chùa Hải Phước An.

Theo đó thì vùng này còn khá nhiều rắn, rít, ở mé ven biển Vĩnh Hải xưa có một người tên là Sết có tài bắt rắn và trị rắn cắn. Người ta nói rằng cái lưỡi của ông Sết đen từ ngoài vào tới trong. Khi bị rắn độc cắn, ông chỉ cần lè lưỡi liếm vào vết rắn cắn là nọc độc tiêu ngay. Chú Quang kể rằng chính ông Sết đã qua khu vực Chùa Hải Phước để bắt 1 con rắn hổ mây lớn mà theo người trước kể lại thì ông chỉ ôm được khúc đuôi con rắn này mang về vì con rắn đã chui kịp vào trong một hốc cây lâm vồ lớn nên ông Sết ôm đuôi kéo ra không nổi bèn chặt lấy khúc đuôi. Còn rắn hổ mây ngày sau bò ra chết ngoài trảng. Nó lớn tới mức phải 5-6 người khiêng mới nổi. Địa danh Trà Sết chính là tên của ông.

Dòng thời gian như “bóng câu qua cửa sổ”. Mới đó thôi nhưng đã có câu chuyện vụt trở thành quá khứ. Nhưng vẫn có những câu chuyện vẫn còn như nguyên vẹn trong tâm thức của nhiều người qua những câu ca dao, bài vè truyền khẩu. Đó chính là sức sống mãnh liệt của dòng văn hoá dân gian khi ghi lại nhưng dấu ấn về con người, về quê hương, xứ sở. Quanh vấn đề này, T.S Mai Thanh Sơn chia sẻ cùng tôi:

- Người ta sống không chỉ bằng ăn-uống, mặc-ở, đi lại mà còn sống vì niềm tin nữa. Khi niềm tin ấy nhân sức mạnh của con người lên thì rõ ràng là nó đã trở thành sức mạnh vật chất. Giúp con người vượt qua những gian khó. Tôi nhận thấy rằng ở vùng cửa sông Mỹ Thanh và cả những vùng cửa sông tây Nam bộ trước đây vốn là vùng rừng ngập mặn... rừng liền rừng vốn gắn với câu “rừng thiêng nước độc” mà. Có rất nhiều câu chuyện, truyền thuyết về ông hổ, cá sấu, rắn rết ở những khu rừng ấy với bao bí hiểm, nhưng cũng chính là nơi cung cấp nguồn sống cho cư dân. Thông thường, người ta thường linh thiêng hoá nó!

Và để chế ngự được những thế lực vừa hư ảo, vừa có thực đó thì người ta cũng phải tìm được sức mạnh tinh thần của chính mình. Và đôi khi những truyền thuyết, những huyền thoại được xây dựng nên từ đó. Và điều quan trọng là nhờ nó mà người ta trở nên mạnh mẽ hơn trước thiên nhiên hay ít nhất... cũng có thể thích ứng được với thiên nhiên, từ đó mới duy trì được cuộc sống của cộng đồng và tồn tại cho đến bây giờ. Tuyền thuyết bao giờ cũng được xây dựng trên nền tảng của sự thật và nếu như nó không có lý do thực tế thì nó cũng vẫn tồn tại với lý do về mặt tinh thần. Làm sao đó để tạo được sức mạnh giúp con người vượt qua những thời điểm khó khăn nhất.

Qua chuyến phiêu du này chúng tôi nghiệm ra rằng: có đi mới hiểu, có đi mới thấy, để rồi mới thấy yêu quê hương, yêu đất nước mình hơn. Để thấy quê mình quá đẹp, quá đáng yêu. Kể sao cho hết chuyện? Mỹ Thanh mênh mang vẫn còn ẩn dấu bao điều kỳ thú đang chờ người khám phá.

Hãy đi để thấy rằng mỗi con sông, mỗi tên làng, tên đất đều gắn liền với những huyền sử hào hùng của những lớp người xưa đi mở cõi.


Vè con Cọp ở làng Vàm Sát

Trải xem trong tổng Thạnh Hưng
Tại làng Vàm Sát có thôn Lạc Hoà
Trước là có phố có nhà
Lại thêm chùa phật, chùa bà rất linh
Tổng, làng dân sự an ninh
Cao Mên, Chệt Khách thái bình an cư
Kể từ năm tỵ tháng tư
Tại chùa Hải Phước ông sư trên chùa
Đang khi gõ mõ vẽ bùa
Nghe la có cọp chạy ùa ra coi
Kẻ thì sách mác cầm roi
Ông sư miệng niệm nam mô
Ngài là ông chúa đừng hô um sùm
....
Có chệt Mã Xiêm
Tay cầm cu liêm
Giựt gài móng lay..
Sơn lâm nổi giận trở quày
Vố cho một vố thẹo trầy huyên thuyên
Mã xiêm thất vía ngả nghiêng
Anh em xúm lại mà khiêng Xiêm về
Tưởng là xiêm đã có nghề
Hay đâu xiêm lại nhà quê quá đời.
Vợ con la khóc kêu trời
Chuyến này mày chết hết đời Xiêm ơi

 Bảy Cụt chưa rõ khúc nôi
Còn đang uống rượu loi thoi nhậm nhầy
Nghe la có cọp tới đây
Mau mau bước xuống mời ngài đi tu
Chấp tay cúi lạy chổng khu
Xin ông thương lão đạo tu bạn cùng
Ai ngờ đến lúc cơn khùng
Lại gần ông cọp anh hùng mới khen
Tưởng là ông cọp làm quen
Hay  đâu ông lại chen vô cấu quào
Bảy Cụt hoảng hốt té nhào



Còn tiếp

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 1: Mênh mang Mỹ Thanh.
Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 2: Ra biển te ruốc và phạ đáy trên cửa Mỹ Thanh.
Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 3: Giếng Ngự, mộ Hoàng Cô và con Cọp cuối cùng ở Giồng Sát.
Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 4: Tả ngạn Mỹ Thanh và con rạch Tổng Cán.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 5: Rạch Gòi - Lịch Hội Thượng và những ngôi chùa chứng tích.
Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 6: Đất và người trên Cánh đồng Năn huyền thoại.

Du lịch, GO! - Theo Tuyên Giáo Sóc Trăng