Hiển thị các bài đăng có nhãn Suối - thác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suối - thác. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 5: Rạch Gòi - Lịch Hội Thượng và những ngôi chùa...

Từ ngã ba Tài Văn, xuôi theo Tỉnh lộ 8, dọc theo kênh Tiếp Nhựt  khoảng 15-16 Km là đến một thị trấn khá sầm uất nằm ở tả ngạn Mỹ Thanh - đó là thị trấn Lịch Hội Thượng. Vốn là một khu dân cư sầm uất từ xưa, không ít người đã ví von: “Cái chợ ba dấu nặng này trước giờ luôn là điểm trung tâm của chiếc đòn gánh-gánh cả hai bờ tả - hữu Mỹ Thanh”.

Rạch Gòi - Lịch Hội Thượng

Cho đến tận hôm nay, vẫn còn rất nhiều người gọi thị trấn Lịch Hội Thượng bằng một tên xưa cũ - chợ Gòi.

Địa danh này bắt nguồn bởi một từ gốc Khmer: Prék Koi do đọc trại ra âm tiếng Việt - rạch Gòi hoặc từ cách phiên âm tiếng Pháp. Cuối thế kỷ 19, địa danh gốc này đã được ghi nhận trên bản đồ của chính quyền thực dân Pháp.

< 3 làng “Lịch Hội Thượng-Hạ-Trung” trên bản đồ ST năm 1889.

Còn với những người Hoa đã sinh sống ở đây từ xa xưa thì Lịch Hội Thượng lại có tên gọi mà phiên âm Hán Việt là: pha lễ bán. Cụm từ này dùng để chỉ hình thế của vùng đất này là cao ráo nhưng không bằng phẳng; phân nửa là rừng. Phải chăng đây chính là hình thế đất giồng? Dù tên có gì thì vẫn cần phải khẳng định rằng: nơi đây đã là một trung tâm buôn bán - trao đổi hàng hoá có từ lâu đời và vẫn phát triển cho đến tận hôm nay. Và cũng trên vùng đất này, cộng đồng 3 dân tộc: Kinh - Hoa - Khmer đã sống cộng cư từ lâu và cùng nhau khai khẩn vùng đất này.

Lịch Hội Thượng xưa thuộc tổng Định Mỹ với trên 5.000 dân, vốn là hai làng Lịch Hội Trung và Lịch Hội Thượng hợp lại và đây là một khu dân cư quan trọng. Còn Dư địa chí Sóc Trăng năm 1936 thì ghi nhận Rạch Gòi là 1 trong 13 trung tâm thương mại của tỉnh Sóc Trăng được xây dựng bên cạnh con rạch cùng tên: “Chợ Rạch Gòi được chuyển thành trung tâm thị tứ loại 3 theo Nghị định ngày 13/8/1925, là một khu dân cư khá quan trọng nằm ở đông - nam tỉnh Sóc Trăng... Hồi đầu thế kỷ XX, Rạch Gòi đã có 787 dân đăng tịch, đa số là người Khmer và người Hoa, liên thông với con đường hàng tổng dài 14 km”.

< Tác giả trò chuyện cùng A.Kiệt, A.Ánh và A.Phước bên hông chợ Lịch Hội Thượng.

Có một thực tế là mặc dù không có vai trò quan trọng về thương mại nếu chỉ nhìn ở góc độ hàng hoá chính yếu của Sóc Trăng khi ấy là lúa gạo, nhưng chợ Rạch Gòi đã là một trung tâm buôn bán - trao đổi hàng hoá nhu yếu phẩm thiết yếu của cả một vùng đất rộng lớn hai bên bờ sông Mỹ Thanh bởi khi xưa, giao thông chủ yếu của cư dân trong vùng này vẫn là đường thuỷ chứ không phải là đường bộ như bây giờ... vai trò ấy vẫn giữ vững cho đến ngày nay.

Ông Hồ Xuân Vĩnh (65 tuổi), chủ tiệm bánh Đức Phát cho biết rằng tiệm bánh của ông đã có từ 3 đời nay, chuyên làm đủ các loại bánh, mứt như: thèo lèo, bánh pía, bánh trung thu.v.v… Từ thời những năm 40 của thế kỷ XX và cả sau đình chiến năm 1954, tiệm Đức Phát luôn là tiệm bán buôn cả sỉ và lẻ cho các tiệm nhỏ từ vàm Dù, Vàm Lẻo, chợ Giồng Chùa, Lạc Hoà (của Vĩnh Châu) và bên tả ngạn là suốt từ chợ Bãi Giá (Long Phú) cho đến Tài Văn (Mỹ Xuyên). Mức độ buôn bán hầu như cứ giữ nguyên và có phần phát triển mạnh lên sau khi được tách ra thành huyện Trần Đề.

Ông Nguyễn Đại Lượng, Nguyên Bí thư thị trấn Lịch Hội Thượng những năm 80 của thế kỷ XX thì ví von hơn: “Chợ Gòi dù nằm bên tả ngạn Mỹ Thanh nhưng lại có vai trò như là phần giữa của một cái đòn gánh - gánh cả hai bờ Mỹ Thanh vì ngày trước, hệ thống đường xá nào được như bây giờ. Đi chợ Gòi với một phần các xã vùng sâu của huyện Vĩnh Châu là thuận tiện hơn cả.


< Một ngôi nhà xưa ở chợ Lịch Hội Thượng.

Những góc phố cũ mái ngói âm dương cổ kính chen lẫn những căn nhà mới xây tươi mới vươn cao, chen lẫn những mảng rêu phong dọc mái hiên tựa như dấu ấn thời gian vẫn còn khắc ghi đậm trong câu ví von của không ít người nơi đây mà tôi chép lại: “cái chợ ba dấu nặng này trước giờ luôn là điểm trung tâm của chiếc đòn gánh - gánh cả hai bờ tả - hữu Mỹ Thanh”!

Chợ Gòi - Lịch Hội Thượng giờ đang chuyển mình trong một vị thế mới, là thị tứ trung tâm của huyện ven biển Trần Đề với thế mạnh kinh tế chủ lực là nuôi trồng thuỷ sản và khai thác biển. Chợ Gòi cũ giờ đã quá tải và đang rất cần khoác lên mình một chiếc áo mới tương xứng. Ngồi trò chuyện bên góc Chợ Gòi với anh Ánh, anh Kiệt, anh Phước... những người đang buôn bán và làm việc ở chợ Lịch Hội Thương, tôi chợt nhận thấy chuyện xây chợ, phát triển chợ sao cho đẹp, cho thuận tiện bán buôn đang là điểm tương đồng của cả người dân và Nhà nước. Anh Lý Tuấn Kiệt-chủ tiệm vàng Tuấn Kiệt, người đăng ký cả 4 gian ki-ốt ngay đầu nhà lồng chợ mới đang trong quá trình xây dựng cho biết:


< Chú Ba Hưng đang kể chuyện cũ ở Lịch Hội Thượng.

- Làm cái nhà lồng chợ mới này thì Nhà nước làm “chủ xị”, còn những người kinh doanh có nhu cầu thì góp vốn để xây chợ, tất cả đều thông qua họp dân, bàn bạc các thứ hết. Từ góp ý cho thiết kế, góp ý việc xây dựng, giám sát.v.v... rồi phân chia thời gian và các đợt góp vốn. Nói chung là... “hợp tác vui vẻ”!

 ... và những ngôi chùa chứng tích chiến tranh

Trong chiến tranh chống Mỹ, chợ Lịch Hội Thượng vốn là một chợ trung tâm quận. Chính vậy nên những vùng ven, vùng lân cận quận lỵ thường xuyên bị Mỹ, Nguỵ chà đi - sát lại hòng đánh bật lực lượng du kích, bộ đội địa phương bám dân, bám đất dọc hai bờ tả - hữu Mỹ Thanh. Đặc biệt là vào những 60 của thế kỷ XX. Nghe chú Ba Hưng (74 tuổi - nguyên Huyện uỷ viên huyện Lịch Hội Thượng) kể chuyện chiến trường ác liệt, rồi những trận đánh năm xưa mới cảm thấy khâm phục lớp cha anh của một thời bom đạn ác liệt nhưng oai hùng thủa nào.


< Chùa Prêk Chat ngày nay.

Trong khoảng thời gian từ năm 1965 đến 1968, Mỹ - Nguỵ thường xuyên rải chất độc hoá học làm rụng lá cây dọc theo những cánh rừng hai bên bờ Mỹ Thanh. Chính vì vậy mà bộ đội, du kích cũng phải di động, thường xuyên thay đổi chỗ ở. Rồi bọn biệt kích khét tiếng do tên Mương chỉ huy thường xuyên đột kích, rồi lính bảo an ở Phân khu Bảo An đóng ngay vàm Bãi Giá kềm siết và chà đi sát lại. Chỉ cần nghe tin “Việt Cộng đi” là bọn bảo an bố trí bao đánh. Ngay cả Tiểu đoàn địa phương quân của tỉnh cũng gặp không ít khó khăn khi hoạt động ở vùng này.

- Cái vùng đó là vùng chiến lược, cửa ngõ của tỉnh đổ ra biển mà! Đời sống của mình lúc đó thì thôi... thiệt gian khổ. Được một cái là lực lượng của mình cỡ tụi tui lúc đó đều còn trẻ... cỡ 27-28 và lớn lắm là 30 tuổi. Còn nhiều anh em du kích đa phần từ 20 tới 25. Do đó, tất cả những khó khăn, tất cả những bom đạn, tất cả chuyện thiếu cơm ăn, thiếu áo mặc tụi tui đều vượt qua được.

Chuyện bom đạn ì đùng và khủng khiếp như thế nào thì lớp trẻ ngày nay chỉ thấy... trên phim... nhưng đến vùng đất này thì chỉ cần đến thăm 2 ngôi chùa là Prêk Chat ở Giồng Chát và Long Thiền Tự ở Tổng Cán thì sẽ cảm nhận ngay được cái “tàn bạo, khốc liệt” của chiến tranh được ngay. Riêng tôi thì lại nghĩ “Nếu đã chiến tranh thì cửa phật cũng không chừa”?


< Chú Thạch Chuốt - nhân chứng của vụ thảm sát.

Chùa Prêk Chat ngày nay đã được xây dựng lại mới và thật đẹp trong quang cảnh rộng rãi của làng quê thanh bình, nhưng trong khuôn viên chùa - Bia chứng tích chiến tranh vẫn ghi rõ: “Ngày 08/5/1965, chính quyền Mỹ, Nguỵ đã dùng máy bay ném bom thảm sát, giết và làm bị thương trên 300 thường dân vô tội (đa số là người già, phụ nữ và trẻ em) ở các xã Lịch Hội Thượng, Liêu Tú thuộc huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Đây là những tội ác dã man do bọn Mỹ, Nguỵ gây ra sau những thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam Việt Nam”.

Chú Thạch Chuốt (65 tuổi), một nhân chứng của vụ thảm sát năm ấy, giờ cất nhà ngay cạnh chùa kể lại:

- Khi ấy tôi cũng đang tu tập ở chùa này. Vệt bom trải dài từ Tổng Cán vắt sang đây. Sa-La của chùa cũng trúng một trái. Sau đợt bom, tui cùng những vị sư ở đây và những người khác nhào đi cứu thương, tìm kiếm và khâm liệm những người chết dọc dải giồng này. Cảnh tượng khi đó thảm lắm... nhà sập, nhà cháy, người chết rồi tiếng kêu khóc làm người ta phải ám ảnh cả một thời gian dài.

Cũng hứng trọn một trái bom trong tháng 5 ấy là Long Thiền Tự nằm ở cuối rạch Tổng Cán. Chánh điện ngôi chùa này hứng trọn trái bom nên sập hoàn toàn. Hố bom ngày xưa giờ đã được lấp và trên chính hố bom ấy, một Lâm Tì Ni đã được dựng lên hẳn như một ước nguyện cho hoà bình, an lạc.

< Cô Diệu Hương và tác giả (trái) trong chính điện Long Thiền Tự.

Thế nhưng điểm đặc biệt nhất của Long Thiền Tự chúng tôi chỉ được biết khi cô Diệu Hương dẫn chúng tôi vào gian chính điện hiện tại và chỉ cho xem những pho tượng gỗ. Tất cả các pho tượng đều mang trên mình dấu tích của chiến tranh. Cô cho biết: tượng 18 vị La Hán do bằng sành nên đều vỡ nát, chỉ còn lại 21 pho tượng gỗ dù bị hư hỏng nhưng đều đã được phục hồi và tu sửa lại. Đó là những tiên ông, hộ pháp, phật Di Lặc, Văn Thù... rồi Phật Tổ đều mang dấu tích... đó có thể một vạt gỗ ở cánh tay bị mảnh dom vạt bay mất nay còn dấu chắp vá, đó có thể là thanh gươm gãy, chú voi gãy ngà, gãy vòi.v.v. Vậy nhưng gương mặt của tất cả vẫn như đang nở nụ cười hiền từ, như tha thứ cho những kẻ đã gây nên cảnh bom đạn tang thương, như khuyên nhủ con người hãy tránh xa chiến tranh, hướng đến một tương lai chan hoà tình nhân ái.



Du lịch, GO! - Theo Tuyên Giáo Sóc Trăng

Xây resort 4 sao ở Bản Giốc

Sáng ngày 8/12/2012,  tại xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh (Cao Bằng), Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) làm lễ động thổ khu du lịch cao cấp Sài Gòn - Bản Giốc đạt tiêu chuẩn 4 sao với tổng diện tích hơn 31,15 ha, chia làm 2 khu chính, trong đó gồm khu tiếp giáp tỉnh lộ 206 và là khu vực kề cận thác.

Nhìn trực diện ra thác Bản Giốc, resort 4 sao này có khách sạn 60 phòng ngủ, 24 khối bungalows, nhà hàng, khu hội nghị, hội thảo, thể thao, vui chơi giải trí, spa, cùng các khu vực hoạt động cắm trại, sinh hoạt ngoài trời. Dự kiến, giai đoạn 1 sẽ đưa vào khai thác cuối năm 2013, với tổng kinh phí đầu tư khoảng 170 tỷ đồng.

Khu nghỉ dưỡng cao cấp quy mô 60 phòng và 24 khối bungalows sẽ nhìn ra thác Bản Giốc nổi tiếng. Dự kiến cuối năm 2013, resort 4 sao này sẽ bắt đầu đón khách.

Ông Trần Hùng Việt, Tổng giám đốc Saigontourist cho hay, công trình lấy cảm hứng và kiến trúc truyền thống của đồng bào địa phương sẽ tạo nên bản sắc của văn hóa Việt Nam, của vùng biên giới phía bắc, đặc biệt của Cao Bằng.

"Sài Gòn - Bản Giốc Resort là dự án đầu tiên nằm ở vị trí vừa có thế mạnh thiên nhiên phong cảnh, văn hóa bản địa, vừa mang ý nghĩa đặc biệt về mặt lịch sử, nơi gắn cột mốc biên giới thiêng liêng của Tổ quốc", ông Việt nói.

Thác Bản Giốc nằm giữa biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Theo đường phân chia cột mốc 836, phía Việt Nam sở hữu một nửa thác chính và phần thác phụ; còn Trung Quốc sở hữu nửa thác chính phía bờ bắc sông Quây Sơn. Mặt sông phía chân thác thành điểm khai thác du lịch chung giữa hai nước.

Du lịch, GO! - Tổng hợp

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 4: Tả ngạn Mỹ Thanh và con rạch Tổng Cán

Khi đọc những tài liệu về một dòng sông, chúng ta thường bắt gặp hai từ: tả ngạn và hữu ngạn. Tả là bên trái, đối lập với bên phải. Còn trên một dòng sông, tả ngạn là bờ sông bên phía tay trái, ngược lại với bên phải-hữu ngạn của con sông.
Góc nhìn và cách gọi này theo hướng dòng nước chảy từ trên nguồn xuống. Phải chăng bắt đầu từ một quan niệm có tính chất luân lý: Tất cả đều bắt đầu từ nguồn cội!? Theo ranh giới địa lý hiện nay thì hầu như toàn bộ huyện Trần Đề nằm ở tả ngạn sông Mỹ Thanh.

Sách Dư địa chí Sóc Trăng năm 1904, trong phần Sông Rạch tự nhiên có đoạn viết: “Miền hạ lưu sông Mỹ Thanh có hai con rạch khá quan trọng chảy vào, đó là rạch Tầm Vu thông sang Ba Xuyên ở phía trên và rạch Tổng Cán chảy từ nam lên bắc trên độ dài 15km. Còn có rạch Gòi và rạch Cô Ảo? chảy vào khoảng giữa cửa sông Mỹ Thanh”.

Tấm bản đồ cũ và... ông Tà Mơn

< Bản đồ nông nghiệp Sóc Trăng năm 1891.

Chuyến phiêu du khám phá vùng đất tả ngạn Mỹ Thanh của chúng tôi bắt đầu từ con rạch Tổng Cán. Dựa trên tấm bản đồ được vẽ vào năm 1891 thì đây là một con rạch khá lớn.

Địa danh ghi trên tấm bản đồ này ghi theo phiên âm là Tong cane cùng một điểm tròn đánh dấu vị trí của khu dân cư... Dùng bản đồ cũ có cái lợi là chúng tôi có thể dễ dàng so sánh và cảm nhận được sự thay đổi của những vùng đất mà chúng ta đặt chân đến.

Điều thú vị đầu tiên mà chúng tôi nhận thấy ở đây là ở tấm bảng tên chiếc cầu bắc qua đầu con rạch đề tên là cầu Trà Mơn? Trong khi với người địa phương thì lại gọi là rạch Tà Mơn.

Còn ở Dư địa chí Sóc Trăng năm 1904 và trên cả bản đồ in cùng năm lại không hề ghi nhận những địa danh này? Lời giải đáp đã có ngay từ vị thượng toạ trụ trì ngôi chùa Sê rây Ta Mơn cổ kính nằm ngay đầu con rạch. Thượng toạ Trần Văn Tha (th.s Phật học) bắt đầu bằng câu chuyện cổ tích về 3 anh em đã có công khai phá vùng đất này. Người anh lớn có tên là Pích, người em có tên là Nôn và người em út có tên là Mơn. Mỗi người bỏ công sức khai phá một vùng đất hoang, tạo lập nên 3 vùng đất mà những địa danh vẫn còn gắn liền với tên của họ cho đến tận ngày nay.

- Trong 3 anh em thì ông Mơn không có con cái nên sau khi mất, ông đã hiến toàn bộ đất đai của ông cho bổn sóc để dựng nên ngôi chùa này. Chính để nhớ công ơn của người đã khai phá đất nên bà con Khmer ở đây dùng tên ông để gọi tên ngôi chùa. Vì ngôi chùa nằm ngay trên con rạch nên dân gian vẫn dùng luôn tên này để gọi con rạch. Ngày trước thực ra vùng đất này rất thấp, nhiều lung bàu...

Như vậy, có thể tạm khẳng định rằng: con rạch mà người dân nơi đây vẫn quen gọi là rạch Tà Mơn có tên chữ trên bản đồ hành chính là rạch Tổng Cán!? Ngày trước, con rạch như một ranh giới tự nhiên phân chia rõ rệt hai vùng đất: một bên là phèn mặn nặng cùng với những cánh rừng thấp ngập nước - một bên là những vùng đất thuộc.

... đến “Thần nông lắt” ở Liêu Tú

Ngắm những cánh đồng lúa dọc theo hai bờ con rạch Tổng Cán đang lên xanh, hẳn ít ai biết rằng cũng chỉ mới gần đây thôi-vào những năm 80 của thế kỷ trước, chuyện làm ra hạt lúa của nhà nông nơi đây không phải là dễ. Đồng Tổng Cán, giồng Chac ngày xưa vốn là đồng cầm trâu, nhiễm phèn, mặn nặng... vốn chỉ có cỏ Năn là chủ yếu, cánh đồng chỉ làm được 1 vụ lúa mùa nhờ nước trời là chính.

< Tác giả trò chuyện cùng Thượng toạ Trần Văn Tha (th.s Phật học), trụ trì ngôi chùa Sê rây Ta Mơn.

Qua quá trình tìm tòi của mình, vị thượng toạ trụ trì chùa Sê rây Ta Mơn cũng cung cấp cho chúng tôi một thông tin khá thú vị về một kinh nghiệm sản xuất của cư dân nơi đây khi xưa là: “Muốn xuống giống, bắt đầu một vụ lúa chính thức thì bà con mình luôn để ý xem lá cây Giá đã xuống màu đỏ rực chưa. Nếu là cây Giá xuống màu đồng loạt thì có thể yên tâm xuống giống vì lúc này mùa mưa đã chính thức bắt đầu, ít phải lo lắng vì hạn bà chằng”.

Làm lúa ngày xưa cực khổ là vậy, nhưng vì đồng rộng mênh mông, lúa làm khi ấy “lấy diện tích để bù năng suất” nên nhà nào cũng không phải lo lắng nhiều chuyện thiếu lúa, thiếu gạo... Còn thức ăn thì cá, tép dưới sông lúc nào cũng sẵn nên khỏi phải lo.

Ông Đinh Thiên Cần - Nguyên Bí thư xã Liêu Tú những 80 của thế kỷ XX nhớ lại một thời bắt đầu chuyển qua làm lúa tăng vụ ở xứ này:

- Những năm đó lúa ở vùng này làm chỉ cần 14-15 giạ là kể như trúng rồi đó. Vậy mà năm 82-83 tụi tui làm “thần nông lắt”... tính như bây giờ phải trên 4 tấn. Giống gì hả? Ai biết là giống gì... chỉ biết nó là lúa thần nông, rồi được mấy nhà nông đi “lắt” từng bông, từng bông về làm giống. Chính từ cái “thần nông lắt” này mà phong trào thuỷ lợi để làm lúa tăng vụ ở vùng này phát triển mạnh.

Những đồng tiền cổ ở Tổng Cán...

Ở gần cuối con rạch là một khu dân cư khá sầm uất - đó chính là ấp Tổng Cán. Tổng Cán nằm trên một con giồng và tên dân giã mà người vùng này vẫn gọi là xóm Phố với phố Trên, phố Giữa và phố Dưới. Hẳn đây là một khu dân cư được hình thành từ khá sớm trong quá trình khai phá vùng đất này vì hôm nay, chúng tôi tìm đến ông Tám Sển (Quách Văn Sển (65 tuổi)) - một cư dân cố cựu ở vùng này và cũng là người đã đào được 1 hũ tiền cổ cũng ở trên con giồng này, đoạn giồng cạnh bên Long Thuyền Tự. Hũ tiền đựng những xâu tiền có niên hiệu Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị. Câu chuyện mà ông Tám kể đã giúp chúng tôi hình dung rõ nét hơn một khung cảnh đặc thù của vùng tả ngạn Mỹ Thanh thời mà người xưa bắt đầu đến khai phá đất, lập làng...

< Liêu Tú ngày mùa (chụp năm 2011).

- Hồi xưa lúc tui còn nhỏ xíu thì con đường chạy trên con giồng này không nằm ở đây. Nó nằm chệch ra mé ngoài một chút. Dọc theo con đường lúc đó tui đi học ở trường làng thì cứ khoảng năm chục-một trăm mét là có một cây xoài lớn mà mấy lão tiền bối trồng để người qua lại có bóng mát nghỉ chân. Vùng này hồi đó nghe nói có cọp nhưng tới thời của tui... những năm 40 đó... thì tui hết thấy. Nhưng heo rừng và khỉ thì tui gặp hoài.

... và con rạch của hoa sen

Rạch Tà Mơn vào những năm 2004-2006 có lẽ là một trong những cảnh đẹp của làng quê Sóc Trăng thanh bình. Xem lại những bức  ảnh chụp tại rạch Tà Mơn vào đầu năm 2006 mà tôi đã có dịp đi cùng nhóm bạn đã khiến nhiều người ngây ngất.


< Rạch Tà Mơn.

Con rạch với bạt ngàn hoa sen chen lẫn các rặng dừa, bần, dừa nước khiến cho phong cảnh ở đây nên thơ vô cùng. Vậy nhưng ở thời điểm mà chúng tôi có mặt thì thật tiếc, con rạch vừa được nạo vét trước đó hơn 2 tháng nên những bờ sen chưa thể mọc lại kịp. Chuyến rong ruổi theo con rạch Tổng Cán của chúng để tìm những đám sen của ngày xưa đã có kết thúc thật thú vị khi gặp bà Trần Thị Mỹ Lệ (năm Lệ). Qua câu chuyện của chính bà Lệ và những đám sen hồng ở đầu rạch Tổng Cán.

- Cũng nhờ sen không đó. Chỉ với vạt sen cặp bờ rạch này với gần 1 công rưỡi sen ở miếng lung trước nhà mà nuôi 3 đứa con ăn học thành người đó! Chỉ có ngó sen thôi đó. Đứa lớn bây giờ làm kế toán ở Sóc Trăng, thằng con trai thứ 2 đang học năm tư đại học, còn nhỏ út năm nay cũng thi đại học.

- Nhắm em nó thì đậu không hả dì? Tôi hỏi:
- Chưa có kết quả, nhưng năm học rồi là học sinh giỏi của Trường Lịch Hội Thượng à nghen!


< Phong cảnh rạch Tà Mơn năm 2006.

Quanh chuyện cây sen, ngó sen, củ sen, bà Lệ còn hào hứng kể cùng tôi chuyện từng là “người mẫu chụp hình” với hoa sen bên con rạch này. Quãng năm 2004-2005, có 3 ông “chụp hình” mang một mớ áo dài vô đây nhờ dì Lệ chèo xuồng, hái sen... ôi đủ thứ hết để chụp hình. Tiếc là những tấm ảnh ấy các con của bà Lệ đã cất hết ở đâu đó nên tôi không được chiêm ngưỡng chúng.

Đến giờ này thì bà Năm Lệ chẳng còn nhớ nổi tên của 3 ông thợ “chụp hình” vì thời gian đã non cả chục năm rồi còn gì? Nhưng tôi tin chắc một điều rằng khi ấy hẳn bà Lệ sắc sảo lắm và những đoá sen trải dài dọc theo rạch Tà Mơn đã tạo nên một khung cảnh nên thơ lắm!? Nếu không vậy thì làm gì có chuyện những nghệ sĩ nhiếp ảnh phải lặn lội xuống tận đây để sáng tác chứ?


Còn tiếp

- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 1: Mênh mang Mỹ Thanh.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 2: Ra biển te ruốc và phạ đáy trên cửa Mỹ Thanh.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 3: Giếng Ngự, mộ Hoàng Cô và con Cọp cuối cùng ở Giồng Sát.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 4: Tả ngạn Mỹ Thanh và con rạch Tổng Cán.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 5: Rạch Gòi - Lịch Hội Thượng và những ngôi chùa chứng tích.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 6: Đất và người trên Cánh đồng Năn huyền thoại.

Du lịch, GO! - Theo Tuyên Giáo Sóc Trăng

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 2: Te ruốc và phạ đáy trên cửa Mỹ Thanh

Chúng tôi ra biển khi trời vừa đâm mây ngang. Chuyến đi này, chiếc ghe te ruốc của Huy - một ngư dân trẻ ở ngay đầu giồng Đồn sẽ có chuyến đi hơi đặc biệt. 

< Tác giả và quay phim Tìa Lâm Huy trên cồn 15 vào sáng sớm.

Đầu tiên, Huy sẽ đưa chúng tôi đi tham quan những hàng đáy ruốc trong nắng sớm và ghé cồn 15, một cù lao giờ đã nổi cao và ngày càng mở rộng ở mé ngoài cửa biển Mỹ Thanh... “Tháng 3 bà già đi biển”. Biển êm cũng bắt đầu vô mùa Ruốc đến tận tháng 5 âm lịch. Có lẽ vì ở đoạn giữa của dòng Hải lưu Biển Đông, cùng với dòng chảy của sông Hậu đổ ra biển qua cửa Trần Đề, rồi dòng chảy của dòng Mỹ Thanh, tốc độ lấn biển của vùng cửa biển này thật nhanh...

Phải chăng đây cũng là lý do để hình thành nên dáng hình của những giồng cát ở Vĩnh Châu khi những giồng cát này luôn có hình dáng như một vòng cung lớn đồng phương với đường bờ biển.

Trước khi ghé vô đây Huy cũng cho chúng tôi biết một thông tin khá thú vị : “Cồn 15 giờ đã nối liền với cồn Trâu thành một giồng cát ngầm dài mút mắt. Ghe tàu đi không khéo mắc cạn như chơi. Còn luồng biển sâu nằm ở phía mặt trời mọc”.

< Một ghe te ruốc trước hàng đáy ruốc trên cửa Mỹ Thanh.

Có đặt chân lên cồn 15 mới thấy đuôi Cù Lao Dung thật gần, bãi biển Hồ Lạng, Hồ Bể cũng thật gần. Chợt nhớ câu “Thương Hải Tang Điền”. Tôi chợt nghĩ - chắc cũng chẳng còn mấy mà đuôi Cù Lao Dung sẽ vươn đến nơi đây!? Hoặc giả không chừng... chỉ cỡ chục năm nữa... người ta có thể đi bộ từ bãi Hồ bể ra đến chỗ này để ngắm biển?

Te ruốc và bữa cơm trưa trên biển

Nắng lên, chúng tôi bắt đầu cho chuyến te ruốc trên biển Hồ Bể. Quan sát 3 ngư dân hạ 2 càng te xuống và chuẩn bị cho một ngày làm việc trên biển mới hiểu, tại sao nghề biển dù mới chỉ loanh quanh gần bờ thôi nhưng đã rất cần một thể lực dẻo dai. Mỗi càng te bằng cây bạch đàn được nối lại dài khoảng 15-16 thước, đầu càng gắn một miếng sắt lớn uốn cong về phía trước như một bàn trượt. Cả 2 càng te gắn trước mũi ghe nằm trên một thanh gỗ lớn làm giá đỡ. Trước khi được đẩy xuống nước, 2 đầu càng te được gắn 2 trái bóng lớn bằng nhựa để tạo sức nâng lên để ngư phủ nhẹ bớt sức nặng. Đưa được 2 càng te xuống nước xong thì các ngư phủ còn phải nhảy xuống biển để gắn lưới, cân càng cho đồng hai bên… cuối cùng là tháo 2 trái bóng để bắt đầu công việc. Tất cả những công việc này đều cần đến thể lực và sự khéo léo…

Đi biển mỗi nghề có một cách ăn chia riêng. Te ruốc có hai kiểu chia: đi ngày và đi chuyến. Đi ngày thì bạn đi ghe sẽ nhận được một số tiền ấn định trước dù có chúng hay thất. Còn đi chuyến thì bạn ghe sẽ được theo tỷ lệ phần trăm đã xác định trên tổng số sản phẩm đánh bắt được. Anh chàng ngư dân nhỏ nhất của chuyến đi này tên là Nhí sau mẻ te đầu tiên thăm dò chọn đi ngày. Phụng-chọn đi chuyến. Chuyến này, te vô toàn ruốc Bông lau, thân ruốc lớn, trắng hồng. lẫn trong đụn là những chú cá dứa, tôm sắt, tôm giang, tôm bạc...

< Đã xuống xong càng te và đang cài lưới.

Đang là mùa biển êm nên cả vùng biển ghe tàu thả lưới, ghe cào, ghe te ruốc xuôi ngược thật nhộn nhịp. Điện thoại di động đã phủ sóng ra tận ngoài biển nên ngư dân liên lạc hỏi chuyện trúng thất để lái ghe di chuyển ngược nước hay cắt ngang dòng chảy tìm luồng đánh trúng thật dễ. Một từ mà ngư dân khi hỏi thăm nhau thường dùng cũng thật “ngồ ngộ”. Đó là từ “đồ”. “Đồ từ sáng tới giờ khá không ? Có đồ nhiều không” ? “Cũng khá! Nhưng cá dứa nhiều quá”. “Sáng giờ đẩy 3 mẻ ngược nước khúc cống 16 coi bộ dính tạp nhiều quá”.

Hoá ra từ này là để chỉ loại hải sản chính của chiếc ghe, chiếc tàu nào đó? Nếu là ghe cào thì “đồ” chủ lực sẽ là tôm sắt, tôm thẻ, tôm giang. Còn ghe đi te ruốc thì “đồ” chính là con ruốc. Những hải sản khác chỉ là phụ thêm mà thôi. Tuỳ theo chiều đẩy mà cứ khoảng 10-15 phút thì kéo tùng lên để “xả đồ”. Mỗi mẻ chí ít cũng được non 2 ký ruốc, trúng thì hơn 5 kg.

Trời trưa đứng bóng, chúng tôi cùng 3 ngư phủ ăn bữa cơm trưa đạm bạc trên biển. Nồi cơm đã được vợ của Huy chuẩn bị trước vào sáng sớm cùng với dĩa khô cá rô phi được chiên sẵn. Hôm nay có 2 vị khách là tôi và quay phim Tìa Lâm Huy nên những chú tôm sắt, tôm giang, tôm thẻ cũng được luộc lên để đãi khách. Giữa biển, trời trưa nắng, ghe vẫn chạy, thi thoảng Nhí, Phụng hoặc Huy lại buông chén để kéo tùng - xả ruốc. Đang ăn đấy nhưng vẫn làm đấy…

< Ngư phủ Nhí với mẻ te đâu tiên.

Con nước chuẩn bị lớn. Huy quyết định về bến để phơi ruốc cho kịp nắng. Công đoạn lên hai càng te lúc này mới thật sự là vất vả và nguy hiểm hơn khi xuống. Không chỉ cần đến sức mạnh của thể lực mà các ngư phủ còn phải thật khéo léo mới có thể đưa 2 càng te khổng lồ này lên được trên ghe. Khi này, 2 đầu càng te đã xả lưới và được cột vào 2 trái bóng nhựa… Nhí và phụng mỗi người một bên để canh ghì cho 2 càng te đi thẳng… Huy cầm lái ở phía sau nhắp ga cho chiếc ghe nhóng lên phía trước từng đợt, từng đợt để hất ngược 2 càng te về phía sau cho đến khi 2 càng te lọt vào ngàm giữ ở phía sau lái. Đây đúng không phải là công việc dành cho những người không có cơ bắp và sức lực như tôi…

Huy cũng quyết định cân luôn số ruốc của một ghe bạn khoảng hơn 100kg với giá 10.000đồng/kg. Hôm nay đánh cũng trúng khá nên chiếc ghe này quyết định ở lại đẩy thêm con nước lớn. Như vậy kể như đã gần xong một ngày lao động. Nhí ngồi ở mũi ghe vô tư đùa nghịch với 2 chú rẹm. Nước lớn, chiếc ghe vô rạch Giồng Đồn. Những người phụ nữ ở nhà đã chuẩn bị xong bãi để phơi ruốc cho được nắng. Một ngày trên biển đã qua. Hôm sau, chiếc ghe và những ngư phủ lại tiếp tục ra biển.

Phạ đáy trên cửa Mỹ Thanh

Sách Gia định thành thông chí của tác gia Trịnh Hoài Đức ghi chép về Mỹ Thanh hải môn xưa như sau: “rộng 10 dặm, khi nước lên sâu 12 thước ta, nước ròng sâu 4 thước ta. Bờ phía tây có thủ sở... thổ sản ở đây là thuốc lá, dưa quả và phơi tôm khô”.  Đây cũng chính là lý do mà chúng tôi dành ra một ngày tìm hiểu về những sản vật đã làm nên danh tiếng của vùng cửa biển này.

< Phụng và Nhí ở mũi ghe bắt đầu lên càng te.

Với nghề đáy, nước ròng thì bắt đầu cài đáy, đến khi nước chuẩn bị những lớn thì dỡ đáy, từ nghề nghiệp là phạ đáy. Những hàng đáy đóng ở trên sông gọi là đáy chỉ. Cá tôm vào hàng đáy chỉ thì đủ loại. Thế nhưng trước khi phân loại thành quả thì việc dọn rác, giũ đáy là công việc nặng nhọc nhất. Chính vì vậy mà một chủ đáy nếu gia đình ít người thì luôn có những bạn đáy đi cùng để phụ giúp. Từ việc cài đáy, lên đáy, giặt đáy cho đến việc lên cá và lựa cá. Nghề hạ bạc này luôn đòi hỏi những thân hình lực lưỡng tràn đầy thể lực. Những công việc nặng nhọc nhất gánh đàn ông đã làm xong, còn những công việc đòi hỏi sự tỷ mỷ, nhẹ nhàng và khéo tay, nhanh nhẹn được dành cho các chị, các em, đó là phân loại cá, tép, tôm… ra riêng từng loại, cân hàng.v.v.

Trò chuyện cùng tôi sau một chiều đáy vào một buổi trưa tháng 5/2012, ngư phủ An, một bạn đáy vui vẻ nói:
- Nghề này sống được anh à! Trung bình một tháng em đi khoảng 25-30 chiều đáy. Một chiều là 100 ngàn. Nuôi vợ con được. Lúc rảnh thì làm thêm mấy chuyện khác nữa.

Hoá ra  một “chiều” là một chiều con nước lên đáy, xuống đáy. Người đi bạn sẽ làm những công việc như: lặn xuống những cọc đáy để cài đáy, kiểm tra mành lưới… chiều lên đáy thì làm ngược lại nhưng cực hơn nhiều vì còn dọn rác, lựa cá, tôm và cuối cùng là gánh sản phẩm về sân.

Nghề đáy ngày nay trúng nhất có lẽ chỉ còn ở vùng cửa Mỹ Thanh với những hàng đáy thuộc làng chài Mỏ Ó. Dù vậy nếu so với những ngày trước thì đã kém hẳn. Những lão ngư dân cựu trào vẫn còn nhớ như in những ngày xưa, khi mà mỗi chiều đáy, một miệng đáy lên được cả trăm ký tôm cá. Bác Nguyễn Văn Heo, năm nay đã 71 tuổi và tự hào là người đã có 3 đời làm nghề đáy kể rằng:


< Cân cá, tôm ở làng chài Mỏ Ó.

- Nghề đáy ngày xưa tính trúng thất bằng “chảo”, tức là chảo gang lớn để luộc tôm đó. Mỗi miệng đáy ở xứ này mà mỗi chiều lên chỉ có 2-3 chảo thì kể như thất! Còn trung bình thì phải từ 5 đến 7 chảo. Một chảo tôm như vậy sau khi phơi khô thì cân được khoảng 18 ký tôm khô. Bán chủ yếu lên miệt Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho và miệt ngoài chớ dân ở đây ăn gì hết.

Hoá ra vậy! Thành thử hỏi sao xưa kia vùng cửa sông này không nổi tiếng với con tôm khô.

Nghề nào cũng vậy! Ắt có lúc thịnh, lúc suy. Dân cư đông đúc, ghe tàu thêm đông, nhiều kiểu đánh bắt hiện đại và tinh vi hơn thì những phương thức đánh bắt truyền thống giảm sút sản lượng và hiệu quả cũng là điều dễ hiểu.

Làng chài Mỏ Ó giờ đã là bến tập trung những ghe tàu đánh bắt nhiều kích cỡ. Tàu lớn đánh lưới khơi, tàu đánh cá gộc, tàu cào, tàu lưới đủ cả. Gặp đúng con nước tàu về bến, hẳn khách phương xa ắt choáng ngợp trước sự náo nhiệt của những bến nước, của đầy ắp cá tôm. Cả làng chài náo nhiệt như một ngày hội.

Cho đến nay, biển được ví như “Bạc” vẫn đúng. Biển vẫn đem đến cho những ngư phủ niềm vui tràn đầy khi lên mẻ lưới trúng, biển hiền hoà nhưng cũng có khi khắc nghiệt với con người. Biển đòi hỏi những người ra biển phải có một thể lực sung mãn, tinh thần vững vàng, sẵn sàng đương đầu với bão giông bất chợt.

Chuyến phiêu du của chúng tôi ở làng chài Mỏ Ó kết thúc khi trời đã ngả về chiều. Khi những hạt nắng ươm rải khắp những giàn liếp, đượm thêm cho những sấp cá khô những sắc màu tươi tắn.


Còn tiếp

- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 1: Mênh mang Mỹ Thanh.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 2: Ra biển te ruốc và phạ đáy trên cửa Mỹ Thanh.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 3: Giếng Ngự, mộ Hoàng Cô và con Cọp cuối cùng ở Giồng Sát.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 4: Tả ngạn Mỹ Thanh và con rạch Tổng Cán.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 5: Rạch Gòi - Lịch Hội Thượng và những ngôi chùa chứng tích.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 6: Đất và người trên Cánh đồng Năn huyền thoại.

Du lịch, GO! - Theo Tuyên Giáo Sóc Trăng

Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 1: Mênh mang Mỹ Thanh

Dòng Mỹ Thanh mênh mang, ôm trong lòng những truyền thuyết và huyền thoại về một thời mở đất. 

Con sông có dòng chảy ngược 

Từng giờ, từng phút, từng giây dòng Mỹ Thanh vẫn cần mẫn chở nặng phù sa đắp bồi cho đất mẹ vươn dần ra biển lớn. Không những vậy, với đặc thù địa lý của một vùng cửa sông đổ ra biển, Mỹ Thanh còn là dòng sông mang đến cho người dân vùng này biết bao sản vật của vùng đất rừng ngập nước, đem đến cho cư dân nơi đây một cuộc sống thật dễ chịu khi dưới tán rừng “ mùa nào thức nấy ”. Đây chính là điều cuốn hút chúng tôi quyết định phải thực hiện một chuyến phiêu du để khám phá vùng đất cửa sông này.

Sông Mỹ Thanh bắt đầu từ ngay Ngã tư rạch Cổ Cò (tên chữ là Lộ Cảnh), chảy theo hướng đông bắc và đổ ra biển Đông. Mỹ Thanh có chiều dài khoảng 25 km, là ranh giới tự nhiên của TX.Vĩnh Châu với huyện: Mỹ Xuyên và Trần Đề. Khi xưa, vùng đất bờ sông phía biển thuộc sứ Bạc Liêu, bờ phía trong này thuộc Ba Xuyên. Cách đây khoảng còn chưa lâu nếu so với chiều dài của dòng thời gian thì vùng đất hai bên bờ sông chủ yếu chỉ làm một vụ lúa nhờ nước trời nhưng ngày nay, những vuông tôm, những trại tôm đã ken dày suốt cả hai bờ. Vùng nào chuyên tôm thì cứ nuôi tôm, vùng nào làm lúa thì đã làm được cả 3 vụ. Thảm thực vật hai bên bờ sông là những loài đặc hữu của vùng đất, vùng rừng ngập nước như : Mấm trắng, mấm đen, dừa nước và bần. Thi thoảng, lại ken những đám rau mui, ô rô, cóc kèn dày đặc.

Nhìn trên bản đồ, quan sát dòng chảy của những con sông của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đổ ra biển, chúng ta dễ dàng nhận thấy dòng chảy của Mỹ Thanh gần như vuông góc với những dòng sông khác. Ở đây, chỉ xét ở góc độ tương đối: Nếu Tiền Giang, Hậu Giang và 9 cửa đều chảy ra biển theo hướng từ Bắc xuống Nam thì dòng Mỹ Thanh lại đổ ra biển theo hướng từ Tây sang Đông.


< Ngã Tư Cổ Cò (tên chữ là Lộ Cảnh).

Với ảnh chụp từ vệ tinh mà Google cung cấp, ta dễ dàng nhận thấy - dòng chảy của sông Mỹ Thanh cắt gần như vuông góc với dòng Hậu Giang ở khu vực cửa Trần Đề. Có lẽ chính vì dòng hợp lưu này, cộng thêm với tác động của dòng hải lưu biển đông đã tạo nên những dải giồng cát đồng tâm với đường bờ biển, trải dài suốt dọc theo của đường bờ biển Vĩnh Châu, làm nên vùng rừng ngập mặn đặc thù của cửa sông này.

Anh Lý Hoà Khương - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TX.Vĩnh Châu cho biết: Cùng với rừng bần ở đuôi Cù Lao Dung, dải rừng Bãi Giá và tuyến rừng đước, rừng mấm trải dài cả vùng cửa sông này đã làm nên một bãi sinh sản lý tưởng cho rất nhiều giống loài thuỷ sản như: tôm càng, cá bông lau, cá sủ, bãi nghêu giống, sò huyết... Mỹ Thanh còn là nguồn chính cấp nước cho các vùng nuôi tôm nước lợ trong tỉnh nên có thể khẳng định rằng: nguồn tài nguyên thiên nhiên mà con sông này mang lại cho người dân Sóc Trăng là rất lớn và cần có biện pháp để ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm môi trường trên cả tất cả lưu vực của con sông này.

Những cánh rừng mấm, bần, chà là, đước chạy dài từ cửa Mỹ Thanh suốt dọc theo ven biển Vĩnh Châu không chỉ có tác dụng giữ đất, lấn biển mà dưới tán rừng, nguồn sản vật đã đem đến cho cư dân nơi đây một nguồn thuỷ, hải sản thật phong phú. Dưới tán rừng đước, rừng mắm, rừng bần… đến mùa thì người dân nơi đây đi bắt ba khía, bắt cua, bắt ốc, cào nghêu, vớt cá bống kèo giống. Còn giăng lưới không chỉ là để kiếm thức ăn mà còn là một sinh kế thường ngày của không ít người chưa kể, cá thòi lòi, cá chốt nghệ luôn là những đặc sản được giá.


< Một hàng đáy thùng trên sông Mỹ Thanh.

Ngồi trên chiếc ghe cào chạy suốt từ ngã tư Cổ Cò xuôi ra cửa sông mới thấy hết cái đẹp, cái tình của con sông này. Dòng sông trước mặt lúc thì như hẹp lại, rồi lại mở ra một không gian mới rộng mênh mang, xanh ngắt ở mỗi khúc quanh của con sông...

Cửa sông và xóm chài của những nghĩa dũng !?

Sách Gia định thành thông chí của tác gia Trịnh Hoài Đức ghi chép về Mỹ Thanh hải môn xưa như sau: “rộng 10 dặm, khi nước lên sâu 12 thước ta, nước ròng sâu 4 thước ta. Bờ phía tây có thủ sở… thổ sản ở đây là thuốc lá, dưa quả và phơi tôm khô. Ngoài cảng về phía đông có cồn cát ngầm, dài chừng 5 dặm, ghe thuyền phải lo tránh”.

Theo mô tả của Trịnh Hoài Đức, cửa Mỹ Thanh ngày xưa chắc chắn rộng và sâu hơn hiện nay. Bởi cũng từ chính những đặc thù này mà hai bên bờ sông Mỹ Thanh, những làng chài, bến đáy, xóm lưới mọc lên san sát nhau. Chỉ riêng điều này cũng đã cho thấy sự giàu có về nguồn tài nguyên thuỷ sản mà dòng sông đã đem đến cho con người. Ở vùng cửa sông này giờ có 2 xóm chài, xóm lưới nổi tiếng là Mỹ Thanh thuộc TX.Vĩnh Châu và Mỏ Ó thuộc huyện Trần Đề.

Xóm chài Mỹ Thanh là xóm chài được xem là lâu đời nhất ở vùng cửa sông này. Và cũng chính xóm chài Mỹ Thanh là nơi Bác Tôn đã lần đầu tiên đặt chân lên đất liền sau những năm tháng Người bị thực dân Pháp đày ải ở địa ngục tràn gian Côn Đảo.


< Bầy cò trắng bình yên ven sông Mỹ Thanh.

Theo những bậc cao niên ở đây thì sau khi cuộc khởi nghĩa chống Pháp của lãnh tụ Trương Công Định thất bại, những nghĩa binh phải lưu tán xa quê hòng tránh sự truy nã của quân Pháp và tay sai. Sau nhiều ngày dong buồm xuôi về phương Nam, họ đã chọn nơi cửa sông này để định cư, lập nên xóm chài Mỹ Thanh ngày nay. Điều này cũng lý giải vì sao những người dân cố cựu ở đây phần lớn đều có gốc gác ở miệt Gò công, Tiền Giang...

Những cư dân ở đây thật hiền hoà, chất phác và cũng thật dễ gần. Trên đường ghé thăm Lăng ông Nam Hải Mỹ Thanh vào khoảng 13h30 một ngày giữa tháng 3/2012, thật may mắn cho chúng tôi là gặp được chú Sáu Tòng-Chánh bái hội Lăng ông Mỹ Thanh. Những câu chuyện kể gắn liền với những địa danh, những truyền thuyết mà chúng tôi được nghe, được thấy đã cho chúng tôi một cái nhìn mới về cái đẹp của những câu chuyện kể, về tốc độ bồi lắng của phù sa lấn biển, về nguồn tài nguyên phong phú nơi đây.

Những câu chuyện thú vị về tên cồn, bãi

Chú Sáu Tòng hào hứng kể cùng chúng tôi chuyện ngày xưa ở xứ này: Vùng Hồ Lạng ngày xưa tới mùa thì khỏi cần đi câu cũng bắt được cá Dứa (tức cá Bông Lau) để ăn. Cỡ tháng 7 tháng 8 âm lịch, khi trái mấm, trái bần chín rụng thì chỉ cần chờ nước lớn, xách cây dao yếm hay cây mác đứng canh đợi cá Dứa nhào lên mé hoặc len vô gốc mấm, gốc bần kiếm ăn mà chém rồi xách về. Con nào con nấy 4-5 ký là chuyện thường. Còn tại sao lại gọi là cồn Đầm hả? Nghe ông bà xưa nói lại thì đúng ra nó là cùng đường, vì ra tới đó là đụng biển rồi hết đường. Ở đó có cái cồn đẹp lắm. Hễ thứ 7, chủ nhựt là mấy ông tây, bà đầm đánh xe xuống đó tắm. Ở ngoài cũng cất luôn cái nhà mát cho mấy bà đầm nghỉ ngơi. Cái cồn này đầm xuống tắm hoài nên gọi luôn nó là Cồn Đầm cho tới bây giờ.


< Chú Sáu Tòng và tác giả trò chuyện ở Lăng ông Mỹ Thanh.

Đến đây cũng cần tìm hiểu thêm về hai địa danh Cồn Sỏ, Hồ bể. Theo chú Sáu Tòng thì địa danh Cồn Sỏ phải gọi là Cồn Sọ mới là đúng nhất vì ngày trước, vùng cửa sông này còn có bãi cá đường hội. Tới mùa cá đường hội, dân chài chỉ bắt cá mổ lấy bong bóng… còn cá gộc, cá dứa thì chỉ lấy mình làm khô còn đầu thì cắt bỏ. Đầu cá tấp vào cồn chất cả đống. Nhưng sau này đọc trại riết ra thành Cồn Sỏ.

Theo miêu tả và sự chỉ dẫn của chú Sáu Tòng, chúng tôi men theo giồng Mù U để đến Hồ Lạng. Trạm Kiểm lâm Hồ Lạng nằm ngay đầu một con rạch cho biết chúng tôi đã tìm đến nơi. Những cây đước, cây giá giờ đã ken dày thành rừng. Một con đường đê nhỏ dẫn chúng tôi ra vụng nước Hồ Lạng ngày xưa. Hồ lạng nay đã lạng hẳn và rừng mắm, đước đã mọc kín bãi... Tuy đã bồi lấp hẳn, kể như đã “lạng” mất, không còn cảnh cá dứa, cá ngát chen nhau ăn trái bần, trái mấm khi nước lớn, nhưng dưới tán rừng là nơi trú ngụ của lũ cá Thòi Lòi, một đặc sản của vùng rừng Sác. Chỉ cần một buổi sáng, một người cũng có thể kiếm được hơn 100.000 đồng từ việc đi thụt cá Thòi Lòi khi 1 kg cá hiện giờ bán cho vựa cũng đã là 60.000 đồng.

Đến vùng cửa sông này mà không đến chơi ở bãi biển Hồ Bể là một thiếu sót lớn. Cả một vùng cát chạy dài suốt gần 2 km theo bãi biển. Khi nước triều xuống, bãi cát cứ trải dài, dài mãi ra phía biển…

Vũng biển này được tạo thành chủ yếu là cát trắng và những đụn cát trắng này thay đổi theo mùa gió và sóng biển. Vào mùa nồm nam, những vành đai cát vươn ra phía biển và có xu hướng bồi lên những nổng cát mới.


< Bãi biển Hồ Bể.

Điều này được giải thích là do nguồn nước từ sông Hậu đổ xuống mang theo phù sa bồi đắp và sóng biển chạy dọc từ hướng bãi Trà Sết ngược lên tạo thành. Đến mùa chướng (tức là khi gió bấc về, bắt đầu khoảng cuối tháng 9, đầu tháng 10 âm lịch), lúc này sóng lớn đập vào bờ từ hướng bắc xuống, cộng với triều cường nên lấy đi những vành đai cát đã được thiên nhiên tạo lập trước đó. Mặt vũng lại mở rộng như trước. Có lẽ đây chính là điều làm nên địa danh Hồ Bể. Chúng tôi lại nhớ đến câu ca dao: “Dã tràng xe cát biển Đông”... Mới có đó nhưng rồi lại mất đi, để rồi đến mùa nồm Nam thì quay trở lại. Chỉ uổng công những chú còng gió (Dã tràng) vẫn miệt mài xe cát mỗi ngày trên bãi.

Đường đến Bồ Bể giờ đã dễ đi. Một con đường đã được mở để nối Hồ Bể với đường Nam Sông Hậu. Có thể thấy rằng, dù chưa được đầu tư để trở thành một khu du lịch sinh thái đúng nghĩa, nhưng cảnh quan của Hồ Bể cho thấy: đây là vùng đất có tiềm năng mở ra một khu du lịch trong tương lai khi hiện nay, đây đã là một điểm dã ngoại lý tưởng cho những hoạt động thể thao ngoài trời như: đá bóng hay bóng chuyền trên bãi biển. Nhưng rồi cũng gợn lại chút lo lắng… khi chợt nghĩ: du lịch thường đi kèm với… tàn phá môi trường, với bê tông hoá những khung cảnh nên thơ mà thiên nhiên đã phải trải qua hàng trăm, hàng nghìn năm tạo lập. Thôi thì cứ xem đó là… lo xa vậy.

“Đi cho biết đó, biết đây.... ” ! Hãy đi để thấy quê hương mình đang đổi thay từng ngày. Hãy đi để thêm yêu những con người, những vùng đất mới đầu cứ tưởng như là xa lạ, nhưng nếu đã đến một lần thì lại thấy nhớ, thấy quen.


Còn tiếp

- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 1: Mênh mang Mỹ Thanh.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 2: Ra biển te ruốc và phạ đáy trên cửa Mỹ Thanh.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 3: Giếng Ngự, mộ Hoàng Cô và con Cọp cuối cùng ở Giồng Sát.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 4: Tả ngạn Mỹ Thanh và con rạch Tổng Cán.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 5: Rạch Gòi - Lịch Hội Thượng và những ngôi chùa chứng tích.
- Mỹ Thanh Du Ký - Kỳ 6: Đất và người trên Cánh đồng Năn huyền thoại.

Du lịch, GO! - Theo Tuyên Giáo Sóc Trăng

Khám phá thác Vạn Mơ

Thác Vạn Mơ (hay còn gọi là thác Chòi – thác Chín tầng) nay thuộc xã Cự Thắng – huyện Thanh Sơn – tỉnh Phú thọ. 

Từ Hà Nội, bạn qua Sơn Tây, tới cầu Trung Hà, men theo dọc sông Đà về Thanh Thủy, từ đây bạn hỏi đường về  xã Cự Thắng – huyện Thanh Sơn (khoảng 20km) là tới. Độ dài cho toàn bộ hành trình khoảng 120km.

Tên thác Vạn Mơ là do ban đầu người ta lấy tên ghép của đôi vợ chồng “Anh Vạn – chị Mơ” –  là những người tìm ra dòng thác đẹp này đặt cho. Chính thế nên nhiều lữ khách hay chữ đến nơi đây đã để lại thơ rằng:  Vạn – Mơ tên vợ tên chồng/Hoang sơ tìm đến, dụng công tạo thành…

< Tầng 2 của Thác.

Lúc đầu thác được gọi là thác “Vạn – Mơ”. Lâu dần, người ta chọn cách gọi là thác Mơ cho giản tiện và gần gũi hơn.

Thác Vạn Mơ là một hệ thống nhiều thác lớn nhỏ nối tiếp nhau (do đó nó còn có tên gọi là Thác Chín tầng), trong đó có một thác cao trên 50m, vách đá dựng đứng. Thác cuối cùng cao khoảng 20m – dội xuống một bãi thoải khá rộng , vào mùa hè có thể tắm mát, bơi lội, nghỉ ngơi bên thác này, khá đẹp và lãng mạn

< Đường lên thác tuy vất vả nhưng rất đẹp, nhất là với những người mê săn ảnh.

Nước đổ qua những tảng đá lớn xanh màu rêu rồi chảy xuống ghềnh đá ngay phía dưới. Bọt nước bắn tung tóe và hơi nước bay ra trắng xóa một vùng. Xung quanh cây rừng rậm rạp xanh um. Trên những vách đá là những bộ rễ chằng chịt của những cây cổ thụ.

< Cảnh núi rừng nhìn từ tầng 3 của thác.

Leo một đoạn dốc thẳng đứng là tới tầng thứ hai của con thác. Ở tầng này, thác không cao cũng không rộng. Nhưng điều thú vị nhất là đứng tại đây có thể nhìn bao quát được cả khu vực hạ nguồn thác Chòi.

Từ tầng thác thứ nhất, để lên đến được tầng thác cuối cùng có hai cách đi. Một là cứ đắm mình xuống dòng nước trong vắt, mát rười rượi, rồi theo những phiến đá cheo leo, trơn trượt mà đi dần lên.
Cách thứ hai là men theo những con đường mòn dọc triền núi để đi, rồi cứ đến một tầng thác lại đu mình mà trèo xuống.

Trên dọc đường đi nếu cao hứng, bạn cứ thoải mái ngả lưng trên những phiến đá phẳng lỳ như một chiếc giường, mà trong các pho sử truyền miệng của người địa phương, thì chỗ đó, thỉnh thoảng các nàng cung mây sau khi tắm mình vẫn tìm lên đây mà hưởng nắng trần gian. Nhưng để lên được tầng thác cuối cùng không phải đơn giản. Thế nên, nhiều người khi đến đây chỉ chinh phục đến khoảng tầng thác thứ 4 đã đành phải chùn chân nhìn lên phía trên đầy nuối tiếc.

< Một dải cầu vòng trong thác rất lạ.

Một điều rất thú vị nữa ở đây là nếu bạn đến vào một ngày nắng đẹp, rất có thể sẽ gặp được cảnh cầu vòng trên thác rất đẹp…

Hoặc ngỡ ngàng trước rừng bướm như cậu bé con này…

Ngoài ra, do thác nước này nằm trong một khu rừng nguyên sinh, nếu bạn thích khám phá sau khi leo thác bạn có thể làm một chuyến checking khu rừng luôn, cả khu rừng này khoảng gần 40 Ha thuộc cuối xã Cự Thắng, được 2 vợ chồng anh Vạn nhận giao đất rừng 50 năm, nên khi thám hiểm rừng các bạn sẽ được anh chị sẽ hỗ trợ thêm về kinh nghiệm, với chúng tôi thì đây mà một địa điểm dã ngoại, thám hiểm, sinh thái rất tuyệt vời!

Đi tìm ngọn thác bị bỏ quên

Du lịch, GO! - Theo Trang tin Phú Thọ, tham khảo: Hải Bùi’s Flickr

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Chinh phục thác Thùm Thùm

Để vào khu du lịch Suối Mỡ, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam (Bắc Giang), từ tỉnh lộ 293 phải vào một con đường dài 750m. Đó là một con đường nhỏ, bề mặt trải nhựa, đoạn đầu khá bằng phẳng nhưng càng về sau, độ dốc tăng dần theo sườn núi Huyền Đinh - Yên Tử.

Sau những phút lặng im hành lễ trong hương khói nghi ngút tại khu đền Thượng, đền Hạ dưới chân suối Mỡ, chúng tôi nghỉ ngơi dưới gốc cây lan cổ thụ đã hơn 200 năm tuổi chuẩn bị chinh phục thử thách. Chúng tôi quyết "giải mã" lời nhận xét của hầu hết dân phượt: "Về Bắc Giang mà không đi suối Mỡ thì coi như chưa biết Bắc Giang. Nhưng đã lên đến suối Mỡ mà không chinh phục thác Thùm Thùm thì uổng phí một chuyến đi...".

< Đường vào thác Thùm Thùm.

Tây Yên Tử là một vùng núi hoang dã rộng lớn với nhiều thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng. Khu vực này thuộc các huyện Yên Dũng, Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam.

Trải dài trên một hành trình cả trăm kilômet, nhưng có lẽ, nơi được thiên nhiên ban tặng nhiều cảnh đẹp kỳ thú nhất là vùng đất Lục Nam với địa danh sông Lục, núi Huyền.

< Công trường thủy điện thác Thùm Thùm, may mắn là nó nằm ở hạ lưu chứ không thì thác chả còn!

Xe chúng tôi đã phải về số 1 để leo dốc trên đường toàn đất đá lởm chởm. Có lúc, cơn mưa ngâu bất chợt đổ xuống xối xả khiến đoàn người chẳng ai kịp mặc áo mưa.

< Tiếng nước thùm thùm khiến cho con thác có cái tên này chăng?

Sau những phút giây phải tập trung cao độ, chúng tôi cũng đến được địa danh thác Thùm Thùm. Nhiều bạn quyết định cởi giày lội theo con suối nhỏ để tiến về phía thác.

Chàng trai người dân tộc Cao Lan bán kem dọc đường cho biết phải đi bộ hơn 1km theo dòng suối, hoặc đường mòn xuyên rừng mới đến được chân thác.

Để đến chiêm ngưỡng trọn vẹn con thác này phải băng qua một chặng đường núi không hề dễ đi.  Ở đây cây cối rậm rạp, nhiều tre trúc khiến bị mất tầm nhìn, gây cảm giác mất phương hướng.

Cũng phải cẩn thận từng bước chân, vì đôi khi có thể là vách đá cao, sẩy chân là ngã xuống vực. Nhưng đối với những người thích khám phá thì được đi bộ, hòa mình vào trong thiên nhiên hoang sơ đã là một sự thưởng thức rồi, chưa kể đến phía cuối hành trình là một cảnh tượng thiên đường chào đón.

< Những 'bể bơi' thiên nhiên tại thác Thùm Thùm.

Nằm ở đỉnh núi Huyền Đinh nên nước ở thác chảy rất mạnh, trong vắt, hệ động thực vật vô cùng phong phú. Những vũng nước do thác đổ xuống tạo thành các "buồng tắm" thiên nhiên rất tuyệt diệu. Nhiều chàng trai, cô gái không chút suy nghĩ lao cả người xuống dòng nước dưới chân thác. Dòng thác xối xả, ầm ầm mát rượi đổ xuống cơ thể mệt mỏi, cuốn phăng đi những giọt mồ hôi, bụi đường.

Đường từ tầng đáy lên các tầng trên của thác Thùm Thùm rất hiểm trở, trơn trượt. Mọi người phải bám tay nhau, rồi vịn vào những thân cây, dây leo để lên tầng thác thứ hai. Tầng thác này được đặt tên là thác Trơn, đúng như những gì mà mọi người vừa chinh phục cảm nhận về nó.

Nước ở tầng thứ ba của thác Thùm Thùm trong vắt, nhìn rõ cả những viên sỏi nhỏ ở đáy. Dòng nước mát lạnh cùng những phiến đá khổng lồ trở thành điểm nghỉ chân thư giãn kỳ diệu.

< Kỹ năng leo trèo phải có để chinh phục những tầng trên.

Để chinh phục tầng trên cùng của thác Thùm Thùm, mọi người phải vượt qua những phiến đá lớn, rồi băng qua tán cây rừng rậm rạp.

Leo lên tầng thác thứ tư không cao lắm, chỉ khoảng 3-4m. Những chàng trai trẻ khỏe có thể bám vào đá đu người vượt thác. Lên được đến đây coi như bạn đã chinh phục được toàn bộ thác Thùm Thùm hiểm trở và hoang sơ.

Nước từ trên cao đổ xuống ào ạt tạo thành những bồn tắm thiên nhiên kỳ thú. Có lẽ tiếng nước đổ thùm thùm khiến cho con thác có cái tên này chăng?

Du lịch, GO! - Theo Hải Dương - Hương Nguyễn (Bắc Giang Online), VietPicture và nhiều nguồn ảnh khác.

Lạc vào Tây Yên Tử
Kỳ vĩ Suối Mỡ

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Huyện Krông Păc - Đăk Lăk

Huyện Krông Păc nằm ở phía đông của tỉnh Đăk Lăk, kéo dài trên 30 km, từ km 12 đến km 50 dọc hai bên Quốc lộ 26. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, Krông Păc luôn là một địa bàn chiến lược quan trọng, là cửa ngõ phía đông vào thành phố Buôn Ma Thuột.

Krông Păc đã trải qua nhiều biến đổi về địa giới hành chính và tên gọi. Khi thành lập tỉnh Đăk Lăk, thực dân và chính phủ Nam Triều đã chia Đăk Lăk thành 5 quận để cai trị, trong đó phần đất phía Tây Krông Păc những năm 30 thuộc quận Buôn Ma Thuột, phần phía đông thuộc quận M’ Đrắk, phần phía bắc đường 26 thuộc quận Buôn Hồ và phía nam đường 26 thuộc quận Lạc Thiện (huyện Lăk ngày nay). Đến năm 1965, chế độ cũ thành lập quận Phước An.

Đến tháng 10 năm 1965, do yêu cầu đòi hỏi của phong trào cách mạng trong tỉnh lúc bấy giờ, theo Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, sau khi hợp nhất B3 và B5, mật danh H8 (huyện 8, tiền thân của huyện Krông Păc ngày nay) được thành lập cùng với 9 huyện, thị khác trong toàn tỉnh, lấy tên H1 đến H10. Từ đó cho đến trước giải phóng năm 1975, có thêm hai lần tách, nhập, điều chỉnh địa giới hành chính và thay đổi tên gọi H89, đông H6 rồi H11. Sau giải phóng năm 1975, hợp nhất 3 huyện: H1, H9 và H11 thành huyện Krông Păc.

Huyện được mang tên một con sông lớn nhất huyện “sông Krông Păc” bắt nguồn từ Chư Tông - M’ Đrăk, chảy ngang qua trung tâm huyện rồi nhập vào sông Krông Bông. Đến tháng 7 năm 1977, toàn bộ khu vực H1 cũ được tách ra thành lập huyện M’Đrăk. Tháng 10 năm 1981, tách các xã phía nam huyện bao gồm cả H9 cũ, thành lập huyện Krông Bông; cùng lúc tách 3 xã phía Tây: Êa Bhôk, Hoà Hiệp, Ea Ktur tiếp giáp đường 21 Bis (nay là Quốc lộ 27) sáp nhập vào huyện Krông Ana.

< Thị trấn Phước An (huyện Krông Pak).

Tháng 12 năm 1985, tách các xã phía Đông huyện thành lập huyện Ea Kar. Tháng 4 năm 1995, xã Hoà Đông được tách ra từ thành phố Buôn Ma Thuột, sáp nhập về huyện Krông Păc theo Nghị định 71 của Chính phủ. Từ đó cho đến nay huyện Krông Păc được ổn định diện tích tự nhiên 62.581 ha, là một huyện miền núi nhưng địa hình Krông Păc tương đối bằng phẳng, phần lớn diện tích đất thuộc nhóm đất Bazan nâu đỏ màu mỡ.

Krông Păc có 02 sông lớn là sông Krông Păc, sông Krông Buk và nhiều suối nhỏ phân bố khá đều khắp trên địa bàn; hầu hết suối nhỏ thường cạn kiệt vào mùa khô. Để khắc phục nhược điểm này, với sự nỗ lực của Huyện cùng với sự hỗ trợ của Trung ương, của Tỉnh, đã đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi đảm bảo nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, trong đó, có hệ thống công trình Hồ chứa nước Krông Buk hạ vừa phục vụ nước tưới sản xuất nông nghiệp cho một số xã của 02 huyện Krông Păc, Ea Kar, vừa có thể khai thác du lịch sinh thái.

Dân số hiện nay khoảng 200.000 người, có 23 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 32,4% dân số toàn huyện. Huyện Krông Pắc hiện có 16 đơn vị hành chính cấp xã (15 xã và 01 thị trấn)..

Với tổng chiều dài trên 30km dọc Quốc lộ 26, theo hướng Đông - Tây, phía Tây nối liền Krông Păc với thành phố Buôn Ma Thuột, phía Đông nối liền với các huyện Ea Kar, M’Đrăk, thông đến Quốc lộ 1; Tỉnh lộ 9 nối với huyện Krông Bông; cùng với một số đường liên huyện và hệ thống giao thông được quy hoạch tương đối hoàn chỉnh.

Với những điều kiện như trên, Krông Păc có rất nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp toàn diện, nhất là: cà phê, hồ tiêu, cao su, ca cao và các loại cây đậu đỗ, cây lương thực và chăn nuôi. Do đó, Krông Păc là địa bàn có diện tích cà phê lớn nhất tỉnh, đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội huyện trong thời gian qua.

Tài nguyên du lịch

1. Di tích lịch sử:

Đồn điền CADA hiện nay nằm ở địa bàn hai xã: Ea Kênh và Ea Yông, huyện Krông Păc, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 27 km về hướng Đông trên Quốc lộ 26.

Đồn điền ra đời trong quá trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân ở Đông Dương nói chung và Đắk Lắk nói riêng (năm 1922). CADA là từ viết tắt của cụm từ COMPAGNIE ARGICOLE D'ASIE: Công ty Nông nghiệp Á Châu, với diện tích ban đầu 2.000 ha, là một trong những đồn điền cà phê lớn nhất ở Đắk Lắk. Đồn điền được thành lập cũng là thời điểm giai cấp công nhân CADA bắt đầu ra đời mà chính họ là nạn nhân của nạn cướp đoạt ruộng đất và bần cùng hoá, trong đó đồng bào Êđê, Mnông chiếm tới 70%.

< Xã Ea Yông, huyện Krông Pắk.

Đây cũng là nơi ra đời chính quyền Cách mạng đầu tiên ở cấp cơ sở trong tỉnh; sáng ngày 18/8/1945, lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên cột cờ trước trụ sở Uỷ ban Cách mạng lâm thời của đồn điền.
Nơi đây vẫn mãi là một địa chỉ đỏ để đời đời con cháu chúng ta hiểu rằng để có hoà bình, hạnh phúc như ngày hôm nay thì đã có biết bao nhiêu xương máu của thế hệ cha anh đã thấm xuống đất này.
Ngày 26/01/1999, đồn điền CADA đã được công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia.

2. Tài nguyên du lịch:

Địa bàn huyện Krông Păc có khá nhiều tài nguyên du lịch; là địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống, gồm các dân tộc Tây nguyên như: Ê Đê, M’Nông, Xơ Đăng, Vân Kiều, Gia Rai và một số đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc vào định cư như: Tày, Nùng, Mường, Dao, Thái, HMông...

Cộng đồng các dân tộc với những truyền thống, bản sắc riêng góp phần tạo thành nền văn hoá đa dạng, độc đáo. Hiện tại vẫn còn duy trì được một số lễ hội văn hoá truyền thống như: Lễ hội cúng lúa mới, Lễ cúng bến nước, Lễ hội Lòng tòng... và các di sản văn hoá Cồng Chiêng.

Về vật thể có cảnh quan rừng, vườn cây công nghiệp dài ngày, suối thác, hồ nước... Tại các khu vực hồ Tân An, hồ Ea Nhái, hồ Ea Wy, hồ Krông Buk hạ, thác Drai Dăng... có thể xây dựng các khu du lịch sinh thái. Ngoài ra còn một số hồ đập khác trên địa bàn huyện trong tương lai cũng có thể khai thác đưa vào hệ thống các điểm vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi phục vụ nhân dân trong huyện.

< Thác Drai Dăng (Dray Đrăng).

Hiện nay, tài nguyên du lịch của huyện phần lớn đang còn là tiềm năng, chưa được đầu tư khai thác.
Ngày 16/5/2012, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành quyết định số: 1075/QĐ-UBND, công nhận thắng cảnh thác Drai Dăng là di tích danh thắng cấp tỉnh.

Thác Drai Dăng (Dray Đrăng) nằm ở huyện Krông Pắc. Muốn thưởng lãm cảnh quan đẹp nhất thì nên đi vào mùa mưa do nguồn nước của thác này từ một Hồ đập chứa nước tưới rẫy cà phê, khi nước nhiều thì họ mới xả lúc đó mới có dòng nước tạo thành thác.

Du lịch, GO! - Theo web Krongpac.daklak, ảnh internet