Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012

Huyện Krông Păc - Đăk Lăk

Huyện Krông Păc nằm ở phía đông của tỉnh Đăk Lăk, kéo dài trên 30 km, từ km 12 đến km 50 dọc hai bên Quốc lộ 26. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, Krông Păc luôn là một địa bàn chiến lược quan trọng, là cửa ngõ phía đông vào thành phố Buôn Ma Thuột.

Krông Păc đã trải qua nhiều biến đổi về địa giới hành chính và tên gọi. Khi thành lập tỉnh Đăk Lăk, thực dân và chính phủ Nam Triều đã chia Đăk Lăk thành 5 quận để cai trị, trong đó phần đất phía Tây Krông Păc những năm 30 thuộc quận Buôn Ma Thuột, phần phía đông thuộc quận M’ Đrắk, phần phía bắc đường 26 thuộc quận Buôn Hồ và phía nam đường 26 thuộc quận Lạc Thiện (huyện Lăk ngày nay). Đến năm 1965, chế độ cũ thành lập quận Phước An.

Đến tháng 10 năm 1965, do yêu cầu đòi hỏi của phong trào cách mạng trong tỉnh lúc bấy giờ, theo Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, sau khi hợp nhất B3 và B5, mật danh H8 (huyện 8, tiền thân của huyện Krông Păc ngày nay) được thành lập cùng với 9 huyện, thị khác trong toàn tỉnh, lấy tên H1 đến H10. Từ đó cho đến trước giải phóng năm 1975, có thêm hai lần tách, nhập, điều chỉnh địa giới hành chính và thay đổi tên gọi H89, đông H6 rồi H11. Sau giải phóng năm 1975, hợp nhất 3 huyện: H1, H9 và H11 thành huyện Krông Păc.

Huyện được mang tên một con sông lớn nhất huyện “sông Krông Păc” bắt nguồn từ Chư Tông - M’ Đrăk, chảy ngang qua trung tâm huyện rồi nhập vào sông Krông Bông. Đến tháng 7 năm 1977, toàn bộ khu vực H1 cũ được tách ra thành lập huyện M’Đrăk. Tháng 10 năm 1981, tách các xã phía nam huyện bao gồm cả H9 cũ, thành lập huyện Krông Bông; cùng lúc tách 3 xã phía Tây: Êa Bhôk, Hoà Hiệp, Ea Ktur tiếp giáp đường 21 Bis (nay là Quốc lộ 27) sáp nhập vào huyện Krông Ana.

< Thị trấn Phước An (huyện Krông Pak).

Tháng 12 năm 1985, tách các xã phía Đông huyện thành lập huyện Ea Kar. Tháng 4 năm 1995, xã Hoà Đông được tách ra từ thành phố Buôn Ma Thuột, sáp nhập về huyện Krông Păc theo Nghị định 71 của Chính phủ. Từ đó cho đến nay huyện Krông Păc được ổn định diện tích tự nhiên 62.581 ha, là một huyện miền núi nhưng địa hình Krông Păc tương đối bằng phẳng, phần lớn diện tích đất thuộc nhóm đất Bazan nâu đỏ màu mỡ.

Krông Păc có 02 sông lớn là sông Krông Păc, sông Krông Buk và nhiều suối nhỏ phân bố khá đều khắp trên địa bàn; hầu hết suối nhỏ thường cạn kiệt vào mùa khô. Để khắc phục nhược điểm này, với sự nỗ lực của Huyện cùng với sự hỗ trợ của Trung ương, của Tỉnh, đã đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi đảm bảo nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, trong đó, có hệ thống công trình Hồ chứa nước Krông Buk hạ vừa phục vụ nước tưới sản xuất nông nghiệp cho một số xã của 02 huyện Krông Păc, Ea Kar, vừa có thể khai thác du lịch sinh thái.

Dân số hiện nay khoảng 200.000 người, có 23 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 32,4% dân số toàn huyện. Huyện Krông Pắc hiện có 16 đơn vị hành chính cấp xã (15 xã và 01 thị trấn)..

Với tổng chiều dài trên 30km dọc Quốc lộ 26, theo hướng Đông - Tây, phía Tây nối liền Krông Păc với thành phố Buôn Ma Thuột, phía Đông nối liền với các huyện Ea Kar, M’Đrăk, thông đến Quốc lộ 1; Tỉnh lộ 9 nối với huyện Krông Bông; cùng với một số đường liên huyện và hệ thống giao thông được quy hoạch tương đối hoàn chỉnh.

Với những điều kiện như trên, Krông Păc có rất nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp toàn diện, nhất là: cà phê, hồ tiêu, cao su, ca cao và các loại cây đậu đỗ, cây lương thực và chăn nuôi. Do đó, Krông Păc là địa bàn có diện tích cà phê lớn nhất tỉnh, đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội huyện trong thời gian qua.

Tài nguyên du lịch

1. Di tích lịch sử:

Đồn điền CADA hiện nay nằm ở địa bàn hai xã: Ea Kênh và Ea Yông, huyện Krông Păc, cách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 27 km về hướng Đông trên Quốc lộ 26.

Đồn điền ra đời trong quá trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 của thực dân ở Đông Dương nói chung và Đắk Lắk nói riêng (năm 1922). CADA là từ viết tắt của cụm từ COMPAGNIE ARGICOLE D'ASIE: Công ty Nông nghiệp Á Châu, với diện tích ban đầu 2.000 ha, là một trong những đồn điền cà phê lớn nhất ở Đắk Lắk. Đồn điền được thành lập cũng là thời điểm giai cấp công nhân CADA bắt đầu ra đời mà chính họ là nạn nhân của nạn cướp đoạt ruộng đất và bần cùng hoá, trong đó đồng bào Êđê, Mnông chiếm tới 70%.

< Xã Ea Yông, huyện Krông Pắk.

Đây cũng là nơi ra đời chính quyền Cách mạng đầu tiên ở cấp cơ sở trong tỉnh; sáng ngày 18/8/1945, lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên cột cờ trước trụ sở Uỷ ban Cách mạng lâm thời của đồn điền.
Nơi đây vẫn mãi là một địa chỉ đỏ để đời đời con cháu chúng ta hiểu rằng để có hoà bình, hạnh phúc như ngày hôm nay thì đã có biết bao nhiêu xương máu của thế hệ cha anh đã thấm xuống đất này.
Ngày 26/01/1999, đồn điền CADA đã được công nhận là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia.

2. Tài nguyên du lịch:

Địa bàn huyện Krông Păc có khá nhiều tài nguyên du lịch; là địa bàn có nhiều dân tộc cùng sinh sống, gồm các dân tộc Tây nguyên như: Ê Đê, M’Nông, Xơ Đăng, Vân Kiều, Gia Rai và một số đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc vào định cư như: Tày, Nùng, Mường, Dao, Thái, HMông...

Cộng đồng các dân tộc với những truyền thống, bản sắc riêng góp phần tạo thành nền văn hoá đa dạng, độc đáo. Hiện tại vẫn còn duy trì được một số lễ hội văn hoá truyền thống như: Lễ hội cúng lúa mới, Lễ cúng bến nước, Lễ hội Lòng tòng... và các di sản văn hoá Cồng Chiêng.

Về vật thể có cảnh quan rừng, vườn cây công nghiệp dài ngày, suối thác, hồ nước... Tại các khu vực hồ Tân An, hồ Ea Nhái, hồ Ea Wy, hồ Krông Buk hạ, thác Drai Dăng... có thể xây dựng các khu du lịch sinh thái. Ngoài ra còn một số hồ đập khác trên địa bàn huyện trong tương lai cũng có thể khai thác đưa vào hệ thống các điểm vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi phục vụ nhân dân trong huyện.

< Thác Drai Dăng (Dray Đrăng).

Hiện nay, tài nguyên du lịch của huyện phần lớn đang còn là tiềm năng, chưa được đầu tư khai thác.
Ngày 16/5/2012, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành quyết định số: 1075/QĐ-UBND, công nhận thắng cảnh thác Drai Dăng là di tích danh thắng cấp tỉnh.

Thác Drai Dăng (Dray Đrăng) nằm ở huyện Krông Pắc. Muốn thưởng lãm cảnh quan đẹp nhất thì nên đi vào mùa mưa do nguồn nước của thác này từ một Hồ đập chứa nước tưới rẫy cà phê, khi nước nhiều thì họ mới xả lúc đó mới có dòng nước tạo thành thác.

Du lịch, GO! - Theo web Krongpac.daklak, ảnh internet

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Trầm mặc tháp Chăm

Di tích tháp Poklongarai (Po Klong Garai) là quần thể tháp Chàm được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14, nằm trên đồi Trầu, (Phan Rang - Tháp Chàm, Ninh Thuận). Đây là một công trình độc đáo, được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật và điêu khắc Chăm.

< Cổng vào tháp Po Klong Garai.

Quần thể này gồm ba tháp: Tháp chính (nơi vua ở, cao 20,50 m, dài 13,80 m, rộng 10,71 m - đây là tháp để thờ phượng và hành lễ trong năm); Tháp lửa (bếp lửa của vua, cao 9,13 m, dài 8,18 m, rộng 5 m) và Tháp cổng (nơi vua tiếp khách, cao 5,65 m, dài 5,10 m, rộng 4,85 m) được xây dựng để thờ vua Poklongarai (poklongarai là tên gọi của dân tộc Chăm đối với Vua SINHAVARMAN III (tên hiệu tiếng Phạn) trị vì, từ 1152 đến 1205 - vị vua có công lớn trong việc xây dựng hệ thống dẫn thủy ở địa phương.

Theo truyền thuyết của dân tộc Chăm, có một cặp vợ chồng nông dân nhìn thấy một đứa trẻ sơ sinh nằm trên bọt nước, trôi từ thượng nguồn dòng sông Dinh (chảy qua địa phận huyện Ninh Sơn và qua thị xã Phan Rang - Tháp Chàm đổ ra bể). Tiếng khóc của đứa trẻ đã làm động lòng cặp vợ chồng làm rẫy gần đấy và họ đã đem bé về nuôi. Họ đâu biết, đứa trẻ này được bề trên phái xuống để thử lòng dạ người trần.

Trời làm cho đứa bé bị ghẻ lở đầy người, mà các thầy thuốc giỏi trong vùng đều không thể chữa khỏi, cốt ý để xem cặp vợ chồng này đối xử như thế nào với đứa bé. Sau đó, trời cho Rồng vàng xuống trần, liếm hết những vết ghẻ lở trên người của cậu bé đang chăn trâu rồi nằm nghỉ trưa ở ngoài đồng. Cậu bé sau đó trở nên khôi ngô tuấn tú khác thường... Sau khi vị vua trị vì mất, nghe lời của một vị chiêm tinh, cậu bé (sau này đã trưởng thành) được phong làm vua, lấy tên hiệu là Poklongarai...

Huyền thoại dân tộc Chăm ở Ninh Thuận còn gắn liền với sự nghiệp xây dựng tháp và giữ đất của vua Poklongarai khi người Tàu đến chiếm đất của người Chăm. Theo truyền thuyết, vua Tàu và vua Chăm đưa ra một cuộc thi xây tháp, bên nào xây xong tháp trước trong thời gian đã quy định thì bên ấy được ở lại giữ đất, ngược lại bên nào xây chậm hơn thì phải rút quân đi. Vua Tàu đốc thúc quân lính đào đất nung gạch, xây tháp suốt bốn tháng trời mà tháp vẫn chưa xong.

Trong khi đó vua Poklongarai thì ung dung thong thả. Vào đêm cuối cùng của thời giao hẹn, Poklongarai mới cho quân dựng lên một khung tháp với chất liệu gỗ và trét phên tre lên rồi phủ thêm vải đỏ bên ngoài. Đến sáng ngày hôm sau quân Tàu từ xa đã trông thấy tháp của vua Chăm trụ sừng sững trên đồi mà không hiểu vua Chăm đã có phép lạ gì mà xây tháp nhanh như thế. Không biết mình đã bị lọt bẫy vì cái kế: "Xây tháp giả bằng gỗ" của Poklongarai. Cuối cùng, vua Tàu đành phải chấp nhận rút quân đi khỏi đất của người Chăm như đã giao kết.

Di tích tháp Poklongarai gắn liền với tín ngưỡng truyền thống của đồng bào Chăm ở địa phương. Hằng năm, nhân dân Chăm đều tổ chức các ngày lễ hội ngay tại tháp để tưởng nhớ đến công ơn của vị vua Poklongarai.
Mỗi năm, đồng bào Chăm có bốn lễ hội đặc biệt với những nghi thức riêng, bao gồm: Lễ Đầu năm (vào tháng giêng theo lịch Chăm) là lễ mở cửa tháp để bắt đầu một năm mới với những thành quả mới của dân tộc mình; Lễ cầu mưa (vào tháng 4 theo lịch Chăm) là lễ cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

Lễ hội Katê (tổ chức vào tháng 7 theo lịch Chăm), đây cũng được xem là lễ Tết lớn nhất trong năm của đồng bào Chăm. Trong lễ hội Katê, tất cả những người Chăm hiện đang sinh sống ở nhiều miền quê khác nhau đều hội tụ đông đủ về đây để gửi gắm những tâm sự thiêng liêng của mình và của gia đình đối với tổ tiên. Trong suốt 3 ngày diễn ra lễ hội, du khách đến tham quan còn được thưởng thức điệu múa quạt, vũ điệu siva thướt tha dịu dàng của các cô gái Chăm cùng với nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo khác. Cuối cùng là Lễ Chabun (tổ chức vào tháng 9 theo lịch Chăm) đây là ngày lễ cha, theo tín ngưỡng của đồng bào Chăm.

Nếu có dịp ghé thăm khu di tích Tháp Poklongarai, du khách sẽ được thưởng thức những đường nét ngoạn mục với lối kiến trúc hình vòm, hình chóp nhọn, phù điêu trang trí mượn của nền văn hóa Chămpa cổ và văn hóa dân tộc Việt, được thưởng thức cái nắng và gió hơi "ngang tàng" nhưng rất đặc biệt của xứ sở Ninh Thuận này.

Từ tháng 3 chớm vào hè đến hết tháng 8 khá đông khách nội địa, ngày lễ có khi tới vài nghìn người tham quan. Từ tháng 9 cho đến tháng 2 năm sau thì phần lớn là khách nước ngoài đi theo tour, gần như không có khách Việt. Vé vào tham quan đồng hạng 10.000 đồng/lượt.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Thị Trường, Laodong

Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

Tham quan Địa đạo Khe Trái ở Thừa Thiên – Huế

Địa Đạo Khe Trái là một trong những di tích lịch sử chứng minh hùng hồn sự kiện lịch sử đặc biệt điển hình của quân và dân Trị Thiên Huế trong quá trình chuẩn bị, chiến đấu và kết thúc chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân Mậu Thân 1968.

Địa đạo là một kiểu trụ sở của Bộ chỉ huy chiến dịch, một kiểu “Cơ quan” của Quân khu, của Khu ủy và Thành uỷ Huế được xây dựng ở vùng rừng núi, góp phần làm phong phú và đa dạng các loại kiểu Địa đạo của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thể hiện sự thông minh, sáng tạo của Công binh Quân khu Trị Thiên Huế trong việc xây dựng căn cứ cách mạng, làm giàu thêm kho tàng nghệ thuật quân sự, nghệ thuật chiến tranh nhân dân của quân đội ta.

Địa đạo Khu Uỷ Trị Thiên Huế nằm ở đồi 160 (đồi nằm ở độ cao 160m so với mặt nước biển) thuộc địa bàn phường Hương Vân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế.Ngoài trọng trách là cơ quan tối cao chỉ huy cuộc tổng tấn công nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trên chiến trường Trị Thiên Huế, là chiếc cầu nối giữa ý đồ chiến lược của Trung ương và thực tế chiến trường. Khu uỷ Trị Thiên Huế đã sử dụng địa đạo như một đại bản doanh, nhất là thời kỳ chuẩn bị và sau chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968, tại địa đạo này đã diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng của Khu uỷ Trị Thiên Huế. Địa đạo có 3 cửa đều nằm trên triền dốc của đồi 160.

Từ ba cửa số 1, 2, 3 đi vào bên trong là lòng địa đạo. Theo kết quả đợt khảo sát, khai thông vào tháng 3 năm 1997 thì cửa địa đạo số 1 có chiều cao là 1,5m; chiều dài 54m; chiều rộng 1m, cửa địa đạo số 2 có chiều cao là 1,5m; chiều dài 45m; chiều rộng 0,9m, cửa địa đạo số 3 có chiều cao là 1,4m; chiều dài 32m; chiều rộng 0,9m. Ở trong lòng địa đạo còn có các hầm ngủ, đặc biệt là hầm hội họp: có chiều cao 2m; chiều dài 4m, chiều rộng 2m. Ở các vách trong lòng địa đạo còn có các cây củi khô, theo các nhân chứng cho biết thì nó được dùng làm trụ để mắc võng cho các cán bộ chiến sĩ nghỉ ngơi trong địa đạo.

Những giá trị về khoa học và lịch sử của địa đạo là bài học quý giá trong công tác giáo dục truyền thống, tuyên truyền trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiện nay, giúp họ hiểu được những giá trị đích thực về cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, nhưng cũng hết sức vẻ vang của lớp lớp thế hệ ông cha ta không tiết xương máu đã ngã xuống để giành được độc lập tự do hôm nay.

Ngoài những giá trị khoa học, lịch sử di tích này còn có giá trị về tinh thần của cán bộ, chiến sĩ đã từng sống và chiến đấu ở mảnh đất này. Những giá trị về khoa học và lịch sử của địa đạo là bài học quý giá trong công tác giáo dục truyền thống, tuyên truyền trong mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiện nay, giúp họ hiểu được những giá trị đích thực về cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ, nhưng cũng hết sức vẻ vang của lớp lớp thế hệ ông cha ta không tiết xương máu đã ngã xuống để giành được độc lập tự do hôm nay. Đó cũng là cơ sở bước đầu cho công tác tôn tạo, bảo tồn và phát huy tác dụng di tích cho những năm tháng tiếp theo. Di tích còn mở ra một khả năng mới trong lĩnh vực tham quan du lịch…

Du lịch, GO! - Theo Tintuc Dulich, internet

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Về Bạc Liêu, dạo “phố Tây”

Tỉnh Bạc Liêu đang lập hồ sơ, đưa vào diện trùng tu, bảo tồn 21 ngôi nhà cổ phong cách kiến trúc Pháp để cho vào tuyến điểm du lịch phục vụ du khách. Đó là những ngôi nhà cổ nằm dọc bờ sông Bạc Liêu. Tất cả đều có tuổi đời gần trăm năm.

< Nhà Công tử Bạc Liêu xưa, bây giờ là khách sạn.

Đi trên đường Hai Bà Trưng (P.3, TP Bạc Liêu), du khách sẽ được tham quan Thư viện Bạc Liêu, một ngôi nhà cổ được xây từ những năm đầu thế kỷ 20. Ít người biết rằng đây là ngôi nhà của ông Trần Văn Chương, thân sinh bà Trần Lệ Xuân, vợ cố vấn Ngô Đình Nhu.
Kế Thư viện Bạc Liêu là bảo tàng tỉnh cũng là một ngôi nhà cất theo kiểu Tây. Trong bảo tàng trưng bày hình ảnh người dân Bạc Liêu xưa qua các thời kỳ xây dựng và phát triển, đặc trưng văn hóa dân tộc Kinh, Khmer, Hoa tại Bạc Liêu.

Đặc biệt, rất nhiều cổ vật đặc trưng nền văn hóa Óc Eo thời vương quốc Phù Nam được sưu tầm và lưu giữ tại đây.

Ông Nguyễn Chí Thiện cho biết tỉnh đang lập hồ sơ, đưa vào diện trùng tu, bảo tồn 21 ngôi nhà cổ mang phong cách kiến trúc Pháp và đưa vào tuyến điểm du lịch phục vụ du khách.

Trong đó có nhà ông Cao Triều Chánh (trụ sở Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh cũ), nhà luật sư Lý Bình Huê (nay là tòa soạn báo Bạc Liêu), nhà ông chánh tòa (nay là CLB hưu trí)... Riêng dãy nhà sáu căn cặp sông Bạc Liêu, xưa là dãy nhà phố của ông Trần Trinh Trạch, cha công tử Bạc Liêu, nay sẽ được trùng tu, sửa chữa thành khu “phố Tây” nối liền Nhà lớn để du khách tiện đường tham quan mua sắm.

Không chỉ tham quan, thông qua những ngôi nhà cổ này, các du khách có “máu” sưu tầm, nghiên cứu kiến trúc nhà Tây và tìm hiểu lịch sử sẽ hiểu thêm nhiều câu chuyện lý thú về cuộc sống, con người ở vùng đất mà từ năm 1882, vị quan chủ tỉnh Lamothe de Carrier đã báo với thống đốc Nam kỳ rằng: “...trong tương lai sẽ nhanh chóng trở thành thành phố lớn nhất của Nam kỳ, sau Sài Gòn”.

Ghé nhà công tử Bạc Liêu

Ngôi nhà nổi tiếng trên đường Điện Biên Phủ (P.3, TP Bạc Liêu) hiện được trùng tu sửa chữa để đón khách tham quan. Buổi tối, đứng trên cầu Quay nhìn qua du khách sẽ chiêm ngưỡng được hết vẻ đẹp cổ kính và uy nghi của ngôi nhà. Nhà quay mặt ra bờ sông, bốn phía đều có cửa sổ.

Ngôi nhà thường được đông đảo khách dừng chân tham quan bởi toàn bộ vật liệu xây dựng như thép đúc, cửa, cẩm thạch lát nền, gạch, khung sắt trang trí... đều từ Pháp chở qua. Từ bùloong, ốc vít đến các chi tiết xây dựng đều được đóng dấu chìm chữ “P” hoa mỹ, chứng thực sản xuất tại thủ đô Paris hoa lệ.

Bên trong nhà hiện còn lưu giữ một số hiện vật của công tử Bạc Liêu như bình, lọ gốm sứ, bàn ghế cẩn ốc xà cừ, đặc biệt là chiếc điện thoại cổ cậu Ba Huy sử dụng lúc đương thời.

Theo ông Nguyễn Chí Thiện, giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Bạc Liêu, ngôi nhà sẽ được trùng tu theo hướng phục dựng cảnh sinh hoạt của gia đình công tử Bạc Liêu thời đó. Du khách ghé chơi sẽ được sử dụng đồ dùng, các phòng trong nhà như sống lại không khí sinh hoạt thượng lưu của gia đình giàu có, thế lực một thời này.

Ngoài ra, du khách còn được chụp ảnh chung với ông Trần Trinh Đức, con trai còn lại duy nhất của công tử Bạc Liêu, đang sống ở quê nhà.

Phủ thờ dòng họ Cao Triều

Từ trung tâm TP Bạc Liêu, đứng trên cầu Quay nhìn qua mé trái sông Bạc Liêu là thấy ngay căn nhà của dòng họ Cao Triều (đường Đống Đa, P.5, TP Bạc Liêu).

Nhà có kiến trúc kiểu Tây pha trộn kiến trúc Trung Hoa với nét đường bệ, nền đúc cao, quét vôi vàng, bao quanh là tường rào bằng sắt và cổng vào rộng lớn. Nhà có ba cửa gồm một cửa chính ở giữa, hai cửa phụ hai bên. Vòm cửa hình bán nguyệt, tường xây cao theo kiểu giấu mái. Nét độc đáo ở mặt dựng ngôi nhà là có khắc hình lưỡng long tranh châu ngay trên cửa chính. Bên cạnh cửa là bốn cây cột đứng hàng ngang, trên có hình điêu khắc các biểu tượng thần linh hết sức tinh xảo.

Trong nhà, cách bài trí và đồ dùng đều được giữ nguyên trạng. Giữa phòng khách, gian chính ngôi nhà là bộ bàn ghế cổ xưa cẩn ốc xà cừ lấp lánh. Kế đó là hai bộ trường kỷ bằng đá cẩm thạch trắng dày cả tấc, ngồi lên nghe mát lạnh. Nhìn vào trong, gian thờ còn nguyên bộ khánh thờ chạm trổ công phu, trên hàng cột gỗ mun là hàng câu đối sơn son thếp vàng. Trên bàn thờ có lẽ khó tìm đâu ra bộ lư đồng lớn, được coi là độc nhất vô nhị xứ Nam kỳ lục tỉnh thời bấy giờ.

Điều đáng trân trọng chủ nhân ngôi nhà vốn là một nhân sĩ trí thức yêu nước: ông Cao Triều Phát - nguyên ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tại đây, du khách cũng biết thêm về gia phả dòng họ Cao Triều, những nhân vật lịch sử gắn liền với tiến trình hình thành và phát triển tỉnh Bạc Liêu.

Du lịch, GO! - Theo Thanhnien

Khi Bạc Liêu thành lập tỉnh năm 1882, chính quyền lúc bấy giờ đã tiêu tốn khá nhiều tiền để xây cất dinh thự, công sở làm việc như Tòa bố Pháp (nay là trụ sở Nhà thiếu nhi và Hội Cựu TNXP), Tòa Tham biện Pháp (nay là Hội Văn học nghệ thuật),…. Cùng với chính quyền, xứ sở Bạc Liêu còn hình thành khá nhiều biệt thự, nhà cao cấp được các địa chủ, điền chủ, tư sản của địa phương xây cất theo lối kiến trúc phương Tây.

Đó là những tòa nhà dọc dài theo bờ sông Bạc Liêu như nhà Ông Vưu Tụng (Huyện Sổn) xây năm 1906, nhà công tử Bạc Liêu xây dựng năm 1919, nhà Ông Trương Xuân xây dựng vào đầu thế kỷ XX; nhà Ông Võ Văn Giỏi (nay là Thư viện tỉnh) xây dựng năm 1930; xa xa bên kia bờ sông có nhiều căn nhà Tây nhưng mang nhiều nét Á Đông như nhà Ông Cao Triều Chánh (trụ sở Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh cũ) xây dựng năm 1930, nhà Bà Chung Tố Anh xây dựng năm 1913, nhà Ông Cao Triều Phát (nay là Trung tâm Y học dự phòng thành phố Bạc Liêu) xây dựng năm 1938, nhà Ông Cao Triều Trực (nay là Phòng Y tế thành phố Bạc Liêu) xây dựng năm 1925, đặc biệt có phủ thờ dòng họ Cao sang trọng, cổ kính vang tiếng một thời được xây dựng năm 1879.

Người ta không quên những ngôi nhà Tây có kiến trúc đẹp như nhà luật sư Lý Bình Huê (nay là Tòa soạn Báo Bạc Liêu) xây dựng trước 1945, nhà Chánh Tòa (nay là CLB hưu trí) xây dựng năm 1910, đặc biệt là ngôi nhà của Ông Trần Văn Chương, thân phụ của Bà Trần Lệ Xuân, phu nhân của Ông Ngô Đình Nhu, cố vấn của chính phủ Ngô Đình Nhiệm xây dựng từ năm 1916...

Sở VHTTDL Bạc Liêu

Thứ Bảy, 9 tháng 6, 2012

Hang Quân Y ở Cát Bà

Nằm ngay ven đường chính của Vườn quốc gia Cát Bà, Hang Quân y là một điểm bạn nên đến nếu có dịp ghé thăm huyện đảo này. Chắc chắn bạn sẽ bất ngờ vì quy mô hoành tráng của một bệnh viện dã chiến trong lòng núi.

Hang thuộc địa phận thôn Hải Sơn, xã Trân Châu. Đây là một địa danh du lịch thám hiểm hang động đẹp do cấu trúc đặc biệt của nhũ thạch và núi đá vôi ven biển hình thành do trầm tích. Đặc biệt Hang Quân Y còn là một địa danh lịch sử do từng là bệnh viện dã chiến trong thời gian quân đội Mỹ bắn phá miền Bắc Việt Nam những năm 1963 – 1965 bằng máy bay và tàu chiến. Thời gian này Quân và dân trên đảo đã xây dựng hang dựa vào lòng núi đá vôi tự nhiên để làm nơi chữa bệnh cho thương binh, nơi trú ẩn, tránh bom đạn dân cư địa phương và dân cư sơ  tán về từ đảo Bạch Long Vỹ.

Từ trung tâm thị trấn Cát Bà đi khoảng 13km, bạn chỉ mất khoảng 30 phút đến đến Hang Quân y và hang này rất dễ tìm thấy bởi biển chỉ dẫn nằm ngay ven đường.

Lối lên của hang  hiện nay vẫn giữ theo kiểu ngày trước (thang gỗ cơ động có thể phá hủy khi có báo động địch tấn công). Bạn cũng sẽ được "hướng dẫn viên bản địa" dẫn bạn vào hang với giá 15.000 đồng/người.

Mặc dù chỉ là hướng dẫn viên nghiệp dư và cũng chẳng mấy khi có khách nhưng bạn sẽ cảm nhận được sự nhiệt tình của họ mỗi khi bạn đến đây.

Ngay ở lối vào hang đầu tiên, bạn sẽ bắt gặp 1 cánh cửa sắt kiên cố. Giải thích vì sao cánh cửa lại cong gồ lên, anh HDV cho biết, đây là cách để chống đạn, mảnh bom vì khi đạn văng vào, do đường cong của cửa, chúng sẽ bắn sang hai bên thay vì găm thẳng vào gây hư hại cửa.

Ngay sau tấm cửa kiên cố với 4 chốt sắt phụ, 1 chốt chính là lối vào bệnh viện dã chiến với quy mô cực kỳ hoành tráng. Cửa vào có thể hơi nhỏ khiến bạn hơi sợ bởi sự lạnh lẽo và thiếu ánh sáng của nó.

Ánh sáng dọc theo hành lang gần như chỉ đủ sáng phục vụ cho việc đi lại. Bạn sẽ nghĩ đây là một căn hầm chống bom chứ hoàn toàn không nghĩ nó vốn là một hang động bên trong núi. Một phòng bệnh khá rộng trong bệnh viện dã chiến.

Một căn phòng trực của các bác sĩ trong bệnh viện dã chiến hiện ra trước mắt người khám phá nhya sau khi mở cửa. Bạn cũng sẽ phát hiện ra cửa cống thoát nước nằm dọc theo hành lang bệnh viện.

Theo thiết kế, tầng 1 là khu vực chính gồm 14 phòng chức năng. Tầng 2 là khu vực chiếu phim và kiểm tra thể lực. Tầng 3 là sảnh đón tiếp, phòng gác và phòng sĩ quan.


Ước tính, toàn bộ bệnh viện dã chiến này rộng gần 2000m vuông gồm có 3 tầng riêng biệt gồm 17 phòng lớn nhỏ, bãi chiếu phim và một số phòng chức năng. Người hướng dẫn này đang chỉ tay giới thiệu, hệ thống điện chiếu sáng  cung cấp cho từng phòng nhằm đảm bảo công tác cứu chữa bệnh nhân thời kháng chiến.



Phần xây dựng trong Hang Quân Y khép kín, kết cấu bằng bê tông cốt thép, chiều dài nỗi giữa hai hang khoảng 200m, thiết kế gồm có cửa trước tiếp giáp phía Tây, cửa sau tiếp giáp phía Đông, khu vực giữa Hang thiết kế gồm có 3 tầng riêng biệt gồm 17 phòng lớn nhỏ, bãi chiếu phim và một số phòng chức năng.
Tầng 1: khu vực chính gồm 14 phòng chức năng.
Tầng 2: Khu vực chiếu phim và kiểm tra thể lực.
Tầng 3: Sảnh đón tiếp, phòng gác và phòng sĩ quan.


Đây là khu vực vệ sinh chung phục vụ cho nhiều người 1 lúc.

Để lên tầng 2, có 2 đường lên và đều không phải dễ dàng bởi nhằm gây khó khăn cho địch nếu chúng tấn công bất ngờ.

Khu vực phòng chiếu phim đồng thời cũng là hội trường, nơi tập luyện tác chiến... Mặc dù có những chỗ trần rất thấp, phải nằm bò mới có thể di chuyển được nhưng nó rất hợp cho công tác huấn luyện. Lối lên tầng 3 cũng rất khó nếu vội vàng. Đây là cách chống địch tấn công chớp nhoáng.


Trong trường hợp địch tấn công được vào bên trong, mọi người từ tầng 3 có thể nhảy xuống bể nước bố trí bên dưới tầng 2 sau đó lao ra cửa hầm thoát hiểm và chạy thẳng ra lối cửa phụ.

Ngoài ra, trong hang này còn có khu vực cầu thang ngầm đi ngay bên dưới tầng 3. Nó dẫn ra khu thoát hiểm của tầng 3 và đi ra hướng cửa sau của bệnh viện. Cuối đường hầm là 2 tấm cửa sắt lớn chống địch đột kích, công phá. Đây cũng sẽ là lối thoát hiểm nếu địch tấn công từ phía cửa trước.

Cổng ra cũng là cổng thoát hiểm của bệnh viện nằm ở mặt khác ngọn núi, ẩn mình sau những nhũ đá lớn.

Hang Quân Y còn là một địa danh lịch sử do từng là bệnh viện dã chiến trong thời gian đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc Việt Nam trong những năm 1963 – 1965 bằng máy bay và tàu chiến. Trong thời gian này Quân và dân trên đảo đã xây dựng hang dựa vào lòng núi đá vôi tự nhiên để làm nơi chữa bệnh cho thương binh, nơi trú ẩn, tránh bom đạn dân cư địa phương và dân cư sơ  tán về từ đảo Bạch Long Vỹ.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ MT (TT&VH), Dulich Halong

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

Xã Thủy Biều - một kho tàng đang ngủ yên

Trên dòng chảy sông Hương, trong hình sông thế núi, trong tiến trình lịch sử, cả trong đời sống văn học và tâm linh, xã Thủy Biều, thành phố Huế, có một vị trí đặc biệt ít được nhận biết để tìm hiểu, nhận thức và có chiến lược khai thác một cách hiệu quả trong đời sống đương đại.

Là một trong 5 xã ngoại thành, nằm ở rìa Tây - Nam thành phố, ba bề bao bọc bởi sông Hương, phía Đông giới hạn bởi đường Huyền Trân công chúa, tiếp giáp xã Thủy Xuân, không một địa danh nào của thành phố Huế có được ưu thế tiếp cận dòng sông này từ nhiều góc độ khác nhau, từ chiều rộng đến chiều cao - xét về góc nhìn thị giác - phong phú đến như vậy.

Thủy Biều rộng 657,3 ha, dân số 9.673 người(1), gồm 7 thôn:
1/ Long Thọ - 2/ Trường Đá - 3/ Đông Phước 1 - 4/ Đông Phước 2 - 5/ Trung Thượng - 6/ Nguyệt Biều - 7/ Lương Quán.

Chiều Đông - Tây trung bình 3550m, chiều Nam - Bắc trung bình 1850 m, địa hình và thổ nhưỡng chủ yếu là bãi bồi do quá trình vận chuyển vật liệu của sông Hương bồi đắp mà thành. Cao độ trung bình biến động từ 5 đến 8 m. Về phía Đông, giới hạn bởi hệ đồi thấp, kéo dài theo hướng Bắc - Nam từ đồi Long Thọ đến đồi Vọng Cảnh, cao độ từ 23 đến 29 m. Đặc biêt, phía Đông - Nam, dãy đồi ven sông Hương có độ cao biến động từ 42 đến 57 m(2). Khu vực này có một địa danh nổi tiếng nhờ vào cái nhìn tinh tế của người Pháp: “Belvédère”(3).

“Belvédère” nằm trên đồi Vọng Cảnh, một địa điểm để chiêm ngưỡng sông Hương cuốn hút du khách khi đến Huế, và cũng từng gây sóng gió trong dư luận cả nước về một ý tưởng có phần vội vã trong chủ trương đầu tư.

Xung quanh Thủy Biều là một vành đai danh lam thắng cảnh và các công trình nổi tiếng cố đô. Ngoài sông Hương huyền thoại chảy vòng quanh xã - và lại chính là khúc quanh đẹp nhất - trong địa bàn xã đã có đồi Vọng Cảnh, gần đấy là lăng Tự Đức. Bên kia sông, từ đồi Vọng Cảnh nhìn sang là điện Hòn Chén nổi tiếng.

Cũng bên kia sông, Văn Miếu, Võ Miếu và danh thắng Thiên Mụ, còn bên này sông là Long Thọ cương, hai địa danh từ lâu đã đi vào ca dao: “Gió đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ cương”. Trên bờ tả ngạn sông Hương kéo dài từ điện Hòn Chén đến Văn, Võ thánh là địa phận của hai xã Hương Hồ, Ngọc Hồ xanh mướt tre cau soi bóng xuống lòng sông.

Làm nền cho cảnh quan thanh bình ấy là trập trùng những rừng thông như sóng nhấp nhô kết thúc tầm nhìn với núi Kim Phụng sừng sững trấn giữ một phương trời. Ngay trên địa bàn xã còn nhiều di tích chưa được khai thác đúng mức: Hổ quyền, Điện Voi ré, Thành Lồi... cần được đánh thức để sớm đưa vào sự nghiệp phát triển văn hóa, du lịch.

Ngay cả nhà máy xi măng Long Thọ hiện nay, một cơ sở công nghiệp già nua, cũ kỹ đang ngày đêm phun khói lên nền trời thành phố, đã đến lúc cần sớm được di dời. Địa điểm này hoàn toàn có thể dành cho một khách sạn du lịch tầm cỡ bên bờ sông Hương mà về mặt văn hóa, cảnh quan, chắc chắn ưu việt hơn một nhà máy nhỏ đang làm nhiễm bẩn không chỉ bầu không khí trong lành mà còn làm vẩn đục cả cảnh quan thơ mộng của sông Hương. Còn về kinh tế, nếu so sánh kỹ, thu nhập tổng thể chắc gì đã thấp hơn giá trị sản lượng mà nhà máy này đang đóng góp?

Trong quá trình tồn tại và phát triển, Nguyệt Biều, Lương quán (2 trong số 7 thôn của Thủy Biều) đã hiện hữu trong một câu ca xưa đầy bí ẩn: “Bất thực Lương Quán kê/ Bất giao Nguyệt Biều hữu…?” trong “tứ bất…” đang là những ẩn số cần được giải mã.

Trên địa bàn Thủy Biều hiện còn vết tích của một dòng sông cổ:
“Sông Lý Nhân”?, nay đã bị bồi lấp thành một dãy ao chuôm liên hoàn với những cụm cổ thụ lâu đời có giá trị cảnh quan và khoa học.

“Nguyệt Biều - Lương Quán không xa/ Cách một con hói hóa ra hai làng. Thảm thực vật, những cụm cổ thụ và dòng sông này nếu được tôn tạo, chỉnh trang, sẽ mang lại nhiều giá trị cảnh quan trong khai thác du lịch với đầu tư thấp.

Một trong những giá trị nổi bật cuả Nguyệt Biều, Lương Quán chính là đặc sản thanh trà. Không biết từ bao giờ, trái “thanh trà Nguyệt Biều” đã trở thành một đặc sản “không nơi nào có được”. Phải chăng đây là một trong những sản phẩm địa phương từng cung ứng cho đời sống cung đình, hay một giống bưởi quý được di thực từ nơi khác đến, thích ứng với điều kiện thổ nhưỡng hoặc do kỹ thuật bí truyền mà Lương Quán, Nguyệt Biều cho ra một sản phẩm ưu việt đến như vậy?

Với nhận xét của những người từng đi nhiều nơi trên đất nước ta, tất cả những giống bưởi nổi tiếng khắp hai miền Nam, Bắc, từ bưởi Đoan Hùng Phú Thọ, bưởi Diễn - nay thuộc Hà Nội - bưởi Phúc Trạch, Hà Tĩnh đến bưởi Biên Hòa, bưởi năm roi, bưởi da xanh của đồng bằng Nam bộ, không một giống bưởi nào có thể sánh với trái thanh trà Nguyệt Biều, Lương Quán ở Huế. Đặc điểm của thanh trà Nguyệt Biều là ngọt thanh, độ ráo vừa phải, róc vỏ và không có dư vị đắng khi uống nước sau khi ăn. Mùa Trung Thu, thanh trà Nguyệt Biều chế biến thành món nộm tôm mực dùng khai vị trong các bữa ăn không có một loại bưởi nào có thể sánh bằng.

Trải bao biến động, thăng trầm của thế cuộc, kể cả hai cuộc chiến tranh lâu dài và thảm khốc, Nguyệt Biều, Lương Quán dường như rất ít bị tác động. Diện mạo gần như nguyên vẹn bộ mặt một làng quê trù phú ven đô như thời các chúa Nguyễn vào Nam mở đất, hay khi kinh đô Phú Xuân còn ở giai đoạn vàng son. Những khu vườn xinh xắn, ngăn nắp liên tiếp kề nhau, những nếp nhà nông thôn yên bình cư ngụ trong một thiên nhiên xanh rờn hoa trái. Vườn gần như không rào. Những hàng cây xén thấp, phân định vườn nọ với vườn kia, chỉ có giá trị tượng trưng. Đường làng lát bê tông phẳng lỳ, sạch bóng. Không một chiếc lá rụng.

Mùa Xuân, cảnh quan hai làng Nguyệt Biều, Lương Quán trắng xóa màu hoa bưởi ngát thơm. Một hương thơm tinh khiết của đất trời trong tiếng ong bay từ bốn phương về hút mật. Mùa Thu, tháng Bảy, tháng Tám, những cây thanh trà trĩu quả, vươn cành phủ rợp đường làng, lủng lẳng, đong đưa trên đầu du khách. Cảnh thanh bình cứ như đời Nghiêu - Thuấn vậy. Có một cái gì đó trong kho tàng văn hóa làng quê còn được bảo lưu, vẫn hiện hữu trong nếp sống ngàn xưa của Nguyệt Biều, Lương Quán?

Tiếc thay, trái quý thanh trà nay đã thoái hóa, không còn giữ được phẩm chất của ngày xưa. So với thời vàng son, trái thanh trà giờ đây bé lại, da dẻ không còn được mỡ màng như trước, nhiều hạt và hạt to, múi cũng khô xác và mất đi khá nhiều phẩm chất vốn có. Vì sao? Rất có thể do bị lãng quên, do thiếu chăm bón, thiếu thị trường, không mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người trồng và còn có thể do nhiều nguyên nhân nữa.

Nhưng dù bất cứ vì lý do gì, để cho trái thanh trà Nguyệt Biều bị thui, chột, thoái hóa cũng là đắc tội với tiền nhân. Giản đơn thôi, để có được trái thanh trà ngon ngọt là một ưu đãi của đất trời cộng với công sức nhiều đời mà không phải bất cứ đâu hễ muốn là có được. Nên chăng đã đến lúc cần có chủ trương và một chiến lược lâu dài, thỏa đáng để phục hồi giống cây quý này? Trái thanh trà Nguyệt Biều cần được các nhà khoa học quan tâm, đầu tư kỹ thuật, nghiên cứu, lai tạo, nâng cao phẩm cấp, gia tăng sản lượng, trước hết, cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng nội địa và thị trường du lịch địa phương. Tương lai xa hơn, có lẽ đã phải nghĩ dần đến việc phát triển giống cây quý này thành một mặt hàng xuất khẩu cao giá với thương hiệu và đẳng cấp vượt trội.

Giả thử như có một ngày, hai bờ sông Hương, từ Hải Cát, Hương Hồ, Ngọc Hồ… trở thành những Nguyệt Biều, Lương Quán mới; vào mùa Xuân, những vườn thanh trà dài hàng cây số trải bên sông đồng loạt mãn khai, để sông Hương phô diễn “hai bờ tuyết trắng” nức thơm hương bưởi, hương cau, để sông Hương thực sự trở thành một dòng sông thơm như tên gọi? Và tại sao không? Mở đầu một năm mới, người Huế nô nức rủ nhau du xuân trong ngào ngạt hương thơm, dưới bóng rợp của những thác hoa thanh trà đổ trắng sườn đồi ngả bóng trong lòng sông xanh biếc. Một “Lễ hội đón mùa hoa thanh trà” diễn ra trong những tháng Xuân khác gì “Lễ hội hoa Anh Đào” của người dân đất Phù Tang ở một chân trời phương Bắc? Một sản phẩm du lịch đặc sắc vốn vẫn nằm trong tầm tay thành phố Festival!

Một giá trị hiếm hoi khác của Thủy Biều đang bị lãng phí một cách oan uổng, đấy chính là một khu đồi đất ở cuối làng: “Động Bàu Hồ”.

Động Bàu Hồ là một dãy đồi núi đất ven sông Hương, chiều dài dọc sông khoảng gần 1000m (960), rộng 520m, cao gần 60m (57,1). Thực ra, động Bàu Hồ là một dãy núi đất liên hoàn với đồi Vọng Cảnh, ngăn cách bởi một thung lũng - nơi đặt trạm bơm của nhà máy nước Vạn Niên - thành hai khu đồi tách biệt. Riêng khu đồi Vọng Cảnh, có chiều dài dọc sông khoảng 690m, rộng khoảng 420m, cao 42m. Nếu tính hai khu đồi này trong một hình thế thống nhất, toàn khu là một dãy đồi dọc sông Hương kéo dài đến gần 2 km(2).

Khác với đồi Vọng Cảnh - trong tương quan với sông Hương - từ lâu đã là một trong những danh thắng của Huế, còn khu động Bàu Hồ trở thành một khu nghĩa địa dày đặc mồ mả! Xét về phương diện cảnh quan, khu động Bàu Hồ có tầm nhìn còn đẹp hơn khu Vọng Cảnh nhiều lần. Do độ cao vượt trội, (57m so với 42m) một phía là sông Hương, phía còn lại là một thung lũng ngăn cách với dãy đồi Long Thọ. Vì vậy, đứng trên động Bàu Hồ, người ta có thể nhìn ra bốn phía, tầm mắt hoàn toàn được giải phóng, không có bất kỳ một vật cản nào làm khuất lấp.

Từ đây, tầm nhìn phóng đến Thuận An, đến phá Tam Giang, ra đến biển. Bên kia sông là Long Hồ, Ngọc Hồ, những bờ bãi, làng mạc xanh mướt ven sông Hương. Thấp thoáng điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ và cả Thành Nội, cầu Trường Tiền. Núi Kim Phụng gần như hiện hữu trong mọi hướng, còn xa hơn, ở cuối tầm nhìn là trùng điệp Trường sơn. Đứng ở đây thấy Huế gần như nằm trong vòng tay ôm ấp của xanh biếc núi non. Về phía Bắc, bằng mắt thường có thể nhìn thấy khu công nghiệp Văn Xá, và xa hơn nữa.

Không một địa điểm nào ngắm sông Hương, ngắm Huế đẹp bằng Bàu Hồ. Nếu biết đầu tư, Bàu Hồ sẽ là một trong những danh thắng nổi bật của Huế thu hút khách du lịch, tham quan, không có nơi nào sánh kịp. Theo Nghị Quyết gần đây của HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế, chủ trương quy hoạch lại hệ thống nghĩa trang trong toàn tỉnh, khu đồi quý giá này cần sớm được xem xét để dành đất cho du lịch và văn hóa.

Hiện nay, phía bờ Tây, đối ngạn, Công ty Điện Lực 3, thuộc tổng Công ty Điện lực Việt Nam đang tiến hành xây dựng một khu du lịch lớn: Khu du lịch Về Nguồn với những khu nhà sàn bằng gỗ, hy vọng sẽ giúp cho đoạn sông này của Huế có thêm sinh khí.

Xa hơn, về phía Nam, mỏ đá “Gà Lôi” cũng đang khai thác một ngọn đồi, màu đất đỏ như một vết thương lở lói đã nhiều nằm ngay bên bờ cây cỏ xanh tươi cuả sông Hương. Đứng trên núi Kim Phụng, ở độ cao 435m nhìn xuống, một số khu khai thác đá giữa bạt ngàn thông xanh đang làm cảnh quan cả vùng bị đào xới nham nhở. Đã đến lúc UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và chính quyền thành phố Huế cần hướng sự quan tâm của mình đến môi trường cảnh quan thiên nhiên lưu vực sông Hương như một dạng tài nguyên quý giá có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp phát triển du lịch nếu không muốn chậm trễ.

Trên cơ sở đó, UBND thành phố Huế nên sớm có chủ trương quy hoạch toàn bộ khu vực với mục tiêu biến Thủy Biều thành một địa chỉ văn hóa - du lịch quyến rũ, đóng góp vào chủ trương xây dựng Huế sớm trở thành một thành phố Festival hấp dẫn của cả nước và của thế giới.

Việc xây dựng khu vực đã nêu nằm trong tổng thể xây dựng hệ thống giá trị du lịch của sông Hương, của thành phố, đang tiềm tàng trong đất đai, trong đời sống cư dân bản địa cần sớm được đánh thức và khai thác.

Không biết có cần phải nhắc lại với nhau rằng quy hoạch là một công việc dài hơi. Một chủ trương đúng, một hệ điều hành hiệu quả với nhiều công sức, tâm huyết, cũng mất khá nhiều năm tháng và tiền của mới hy vọng tiềm năng trở thành hiện thực.

Theo N.T.H
(SDB4-12) Tạp chí Sông Hương

...................................
(1) Số liệu: Website UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.
(2) Số liệu “Bản đồ số hóa” của Sở Khoa học - Công nghệ Thừa Thiên Huế.
(3) Belvédère: Tên thường gọi một vòng xoay nhỏ do người Pháp xây từ dựng từ trước 1945, nay vẫn còn. Belvédère nguyên nghĩa là lầu canh, vọng lâu, vọng tháp v.v. (Từ điển Pháp Việt Đào Đăng Vỹ - Nhà sách Nguyễn Trung phát hành 1970 - trang 179).

Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Về miền Tây thăm những “ông già Nam Bộ”

Chúng tôi lên đường để tìm lại chút dấu xưa lưu giữ hồn Nam Bộ. Và, chúng tôi đã gặp- thật kỳ diệu, dẫu tuổi tác khác nhau, thời đại khác nhau, hoàn cảnh sống khác nhau,… nhưng dường như, đã có một mối dây mật thiết xuyên suốt của tính cách Nam Bộ từ đời này sang đời khác.

Cũng như đất trời, bao năm tháng cứ tiếp nối đi qua, mà mỗi ngày đến cũng đều là ngày mới! Ở một góc khuất nào đó trong bộn bề cuộc sống, chợt lắng lòng với những “ông già Nam Bộ”…

“Nhớ câu kiến nghĩa bất vi”

Theo Đường tỉnh 26, từ TP Bến Tre đi Ba Tri chừng 35km. Nắng vàng chói chang, nắng như lửa đốt. Dẫu vậy, đường “lên mộ” cụ Nguyễn Đình Chiểu- cách nói rất thân thiết của người dân Ba Tri, luôn có cảm giác mát lành khi băng qua những cánh đồng lúa xanh, những vườn dừa như bất tận.

“Thần tượng” trong lòng dân

Thật ngẫu nhiên, tưởng như có một sợi dây liên kết vô hình nào đấy, khiến chúng tôi gặp cụ Phan Minh Trí- đầu tóc bạc phơ, lưng còng, cười móm mém. Đã 90 tuổi, từ TP Hồ Chí Minh có dịp về xứ sở “ba đảo dừa xanh” Bến Tre, cụ nhất định phải tới thăm mộ nhà thơ “Lục Vân Tiên” Nguyễn Đình Chiểu ở xã An Đức, huyện Ba Tri.

Ở đây, không ai mà không biết đường “lên mộ”- cách nói rất thân thiết của người dân. Cảnh vật, lối đi như ru lòng du khách trở về với ngày xưa. Nhà thờ cũ trước đây được xây dựng vào năm 1972 nhỏ, gọn nhưng trang trọng. Đến nay vẫn còn trong khuôn viên Khu di tích với nhiều cây cao bóng cả.

Trong nhà thờ, ngoài tượng và bài vị thờ cụ Đồ Chiểu, còn có treo chân dung các vị anh hùng dân tộc như Trương Định, Thủ Khoa Huân, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực, Phan Tòng,... và trích đoạn những tác phẩm văn học nổi tiếng của cụ Đồ. Nhà thờ nhỏ khi xưa, nay được dùng làm văn phòng Hội Đông y, như một cách tưởng nhớ nhà thơ yêu nước, vừa dạy học, vừa bốc thuốc cứu người. Cụ Trí ngắm nhìn ngôi nhà thờ rất lâu, rồi quay qua bảo: “Tui cũng làm thầy thuốc Đông y, thiệt là ngưỡng mộ cụ Đồ Chiểu”.

Mặc dù sinh ra ở Huế, đậu tú tài ở Gia Định năm 1843, nhưng 21 năm cùng sống, cùng yêu, cùng ghét- nên Ba Tri xem cụ Đồ Chiểu như là người của quê hương xứ sở. Có lẽ danh xưng “ông già Ba Tri” cũng bắt nguồn từ đó. Dường như không người dân Nam Bộ nào không biết ngâm nga vài câu Lục Vân Tiên “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng…”

Sức sống của những vần thơ Đồ Chiểu bởi chất thơ cũng là cốt cách người Nam Bộ- những người đi khai phá, bất khuất trước hiểm nguy và quyền lực, nghĩa khí “giữa đường thấy việc bất bằng chẳng tha” và không màng danh lợi “làm ơn há dễ trông người trả ơn”. Người Nam Bộ đã tìm thấy hình ảnh và “thần tượng” của mình bằng bản chất trượng phu, hào phóng, trọng nhân nghĩa của Hớn Minh, Tử Trực, ông Quán, ông Ngư, ông Tiều. Thể hiện đúng khát vọng vươn lên đạo làm người của cư dân vùng đất mới.

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm…”

Đến với khu mộ cụ Đồ Chiểu, chúng tôi như được sống lại cùng không gian, thời gian mà nhân vật Lục Vân Tiên trượng nghĩa “Trai thời trung hiếu làm đầu…” và tính cách khí khái, thanh cao của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.

Hẳn nhiều người chưa quên, khi Pháp đánh chiếm Gia Định năm 1859, cảm nhận sự hy sinh anh dũng của những nông dân chân đất, Nguyễn Đình Chiểu viết bài Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc vô cùng thống thiết. Và lần đầu tiên, người nông dân- chiến sĩ đã hiện lên rõ nét trong văn học. Những người chỉ “cui cút làm ăn- toan lo nghèo khó” mà “việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy tay vốn quen làm; tập khiên tập súng tập mác tập cờ mắt chưa từng ngó”. Nhưng sẵn sàng “mến nghĩa làm quân chiêu mộ” để chống Pháp.

Và cụ Đồ Chiểu cũng tinh anh, bất khuất từ thơ văn tới đời thật. Đó là khi viên Chánh tham biện tỉnh Bến Tre Michel Ponchon ba lần đến nhà ông để khéo léo dụ dỗ, ông đều chối từ. Lần đầu, Ponchon đi với thông ngôn Lê Quang Hiển, ông giả điếc không nghe. Lần sau Nguyễn Đình Chiểu giả đau không tiếp. Khi Ponchon đề nghị trả đất đai ở Tân Khánh cho ông, Nguyễn Đình Chiểu đã trả lời: “Nước chung đã mất, đất riêng còn có sao được?”

Để giờ đây, trang trọng trong khu di tích, đôi câu thơ đối “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” vẫn lưu truyền hậu thế. Với người Nam Bộ, Lục Vân Tiên đã bước ra cuộc sống- trở thành biểu tượng đẹp đẽ đại diện cho con người hào hiệp, trượng nghĩa, thủy chung. Tại TP Hồ Chí Minh, một số doanh nghiệp đã đề nghị lập “Giải thưởng Lục Vân Tiên” để tưởng thưởng cho các anh hùng nghĩa hiệp “giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha” sẵn sàng xả thân bắt cướp, bênh vực người yếu, thế cô.

Giữa rợp mát màu xanh, tiếng cô hướng dẫn viên thủ thỉ, cụ Phan Minh Trí gật gù: “Thiệt là có phước, tui luôn coi cụ cũng là ông tổ nghề thuốc của tui”.

Từ Khu di tích mộ cụ Đồ Chiểu, ông cụ Trí đã cùng chúng tôi ngồi ôtô qua Phú Lễ, rồi xuống xe ôm đi Bảo Thạnh để được thắp nén hương tưởng nhớ Đại khoa Tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ- cụ Phan Thanh Giản (1796- 1867). Năm 2008, Cục Di sản văn hóa đã có công văn nêu rõ, các nhà sử học đánh giá cao công lao của cụ Phan Thanh Giản trên nhiều lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa. Cụ nổi tiếng thanh liêm, đạo đức.

Cách đó 3km là khu mộ Sùng đức Võ Trường Toản (?- 1792). Cụ là người học rộng tài cao, thông đạt kim cổ. Nhiều học trò của ông nổi tiếng như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định (lúc bấy giờ được gọi là Gia Định tam gia thi),… Khi 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, học trò đã tổ chức di dời hài cốt cụ về làng Bảo Thạnh, Vĩnh Long (nay là Ba Tri, Bến Tre), lúc bấy giờ còn là đất tự do. Văn bia dựng tại mộ do Phan Thanh Giản soạn thảo.

Du lịch, GO! - Theo PHƯƠNG NAM - TRẦN PHƯỚC (Vĩnh Long Online)

Về nơi cội nguồn văn hóa đất phương Nam

Theo người xưa kể lại trước đây làng có 6 thôn. Năm 1844 mang tên là làng Bình Hưng. Năm 1852 đổi là làng Bình Thủy. Đầu thế kỷ 20, làng lại đổi tên thành Long Tuyền với ngụ ý minh hoạ đất thiêng này có hình con rồng, bởi địa hình có sông Bình Thủy nước chảy uốn khúc như thân rồng nằm, vàm sông Bình Thủy miệng rộng há toác ra ngậm trái châu là đất Cồn Linh. Bốn rạch tỏa ra như bốn chân rồng. Đoạn đuôi thon thon nằm vắt tận cuối làng.

Tương truyền năm 1852, Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt đi tuần thú trên một chiếc hải thuyền, khi gần đến Cồn Linh gặp phải một trận cuồng phong lớn khiến mọi người hoảng sợ. Nhưng nhờ ẩn nấp kịp nơi vàm rạch Bình Thủy nên vô sự. Thoát nạn, Huỳnh Mẫn Đạt cho tổ chức tiệc mừng để vui cùng nhân dân địa phương và cho đổi lại tên rạch và tên đất này là Bình Thủy.

Làng cổ Long Tuyền được xem là nơi địa linh nhân kiệt bởi sinh ra nhân tài đất Việt như: Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807- 1872), một trong bốn rồng vàng đất Đồng Nai. Sự nghiệp thi ca của ông chứa chan lòng yêu xứ sở và chí khí chống ngoại xâm, độc đáo hơn hết là sự cống hiến quý giá của ông đã cải biên nghệ thuật tuồng cung đình đương thời thành tuồng của dân gian, của dân miệt vườn lam lũ, giàu tình nghĩa, khẳng khái đấu tranh cho chính nghĩa.

Vở tuồng "Kim Thạch kỳ duyên” của ông được liệt vào hàng các vở tuồng cổ nhất nước ta, hấp dẫn bao thế hệ cả nước và cũng là vở tuồng đầu tiên dịch ra tiếng Pháp. Khu mộ ông thuộc phường An Thới, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ và đã được Bộ Văn hóa-Thông tin công nhận là di tích Lưu niệm danh nhân vào ngày 25/1/1994.

Làng cổ Long Tuyền nay đã phân chia thành nhiều đơn vị hành chính như: phường Bùi Hữu Nghĩa, An Thới, Bình Thuỷ, Long Hoà, Long Tuyền...

Dù đã trải qua bao thăng trầm của cuộc đời và chiến tranh tàn phá, nhưng vẫn giữ được nét chân chất mà thanh tao, giản đơn nhưng sâu lắng bởi cảnh sông nước hữu tình, lòng người mến khách. Làng cổ này còn có đến 6 di tích cấp quốc gia như: Đình Bình Thủy (tức Long Tuyền cổ miếu) được xây từ năm 1844, nay mới được trùng tu.

Chùa Nam Nhã từng lưu dấu chân của Phan Bội Châu, Cường Để và sau này là nhà cách mạng Ngô Gia Tự. Từ năm 1907 đến 1940 đây là trụ sở chính của phong trào Đông Du, là nơi hội họp, hoạt động chỉ đạo chống Pháp. Năm 1991, chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Long Quang cổ tự có từ thời Vua Minh Mạng thứ 5 (1825).

Long Quang cổ tự tính đến nay đã trải qua 180 năm, là công trình kiến trúc nghệ thuật tôn giáo. Bên trong nội thất có hệ thống tượng Phật bằng gỗ được chạm trổ rất độc đáo. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chùa còn là điểm liên lạc của nhiều cán bộ hoạt động ở vùng ven và ngoại thành Cần Thơ. Ngày 21/6/1993, Bộ Văn hoá đã ra Quyết định công nhận chùa Long Quang là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia.

Chùa Hội Linh từng một thời nuôi chứa cơ sở hoạt động cách mạng, trở thành địa chỉ đỏ được công nhận di tích lịch sử văn hoá năm 1993. Chùa được xây dựng năm 1907, nét độc đáo của chùa là sự lưu giữ, bố trí khá nhiều hiện vật cổ rất có giá trị giữ gìn bản sắc văn hóa Việt. Chùa Hội Linh còn là địa chỉ tổ chức nhiều hoạt động xã hội từ thiện. Đây còn làm điểm để sinh hoạt giáo dục truyền thống cách mạng cho rất nhiều thanh thiếu nhi tại địa phương.

Làng cổ Long Tuyền hiện còn lưu giữ khá nhiều ngôi nhà cổ, nhiều nhất là phường Bình Thuỷ. Độc đáo hơn cả là ngôi nhà cổ họ Dương, người dân hay gọi là nhà cổ vườn lan Bình Thủy. Ngôi nhà được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1870 bằng gỗ, lợp ngói, gồm 5 gian. Tất cả hương án, khán thờ, liễn đối đều bằng gỗ khảm xà cừ, các tủ chè, sập gụ, trường kỷ đều được đóng bằng các loại gỗ quý như lim, căm xe...

Những nét chạm khắc tinh tế theo chủ đề sinh hoạt sông nước miền Tây Nam bộ trên các đồ gỗ nội thất này qua bàn tay của các nghệ nhân đến từ 3 miền Bắc - Trung - Nam đã trở nên sống động và hấp dẫn. Nhà cổ dòng họ Dương là một trong những ngôi nhà cổ nhất ở Nam Bộ còn lại tương đối nguyên vẹn.

Về làng cổ thấy thương thương những cái tên nôm na, dân dã như rạch: Bà Bộ, Ông Vựa, Bà Chủ Kiểu, Miễu Ông, rạch Cam, Chanh, Chuối... Theo hương lộ 28 (lộ Sóng Lươn), qua chợ Miễu Ông có Miếu Ông Hổ.

Người dân nơi đây rất tường tận giai thoại về hai "ông Hổ” tranh giành lãnh địa, cả hai đánh nhau đến chết! Hiện trong miếu có bức tranh vẽ "hai ông” đang chiến đấu với nét vẽ dân gian, chân phương sinh động.

Làng cổ Long Tuyền bao năm tồn tại giữa bom đạn chiến tranh, hình thành nên huyền thoại Lộ Vòng Cung rực lửa, một căn cứ Vườn Mận anh hùng đang giang tay nối liền với chợ nổi Phong Điền, Cái Răng, khu du lịch sinh thái Mỹ Khánh, tạo thành tuyến du lịch hấp dẫn, đặc trưng cho miệt vườn sông nước, cuốn hút khách du lịch muôn phương bởi cái hồn cổ vẫn quanh quẩn đâu đây ẩn chìm trong nhịp sống mới đang hối hả sinh sôi trên vùng đất thiêng với nhiều điều kỳ diệu.

Du lịch, GO! - Theo Theo Đại Đoàn Kết