Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Đi chùa Nổi mùa nước nổi

Chùa Nổi được xây dựng cách đây hơn 200  năm, trên một gò cao thuộc ấp Cả Bản, xã Tuyên Bình, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, thuộc vùng sâu của Đồng Tháp Mười. Chùa còn có tên gọi là Nổi Cổ Sơn Tự, chưa khi nào vắng khách dù ở tận vùng sâu giáp biên giới Campuchia.

< Chùa Nổi, còn gọi là 'Nổi Cổ Sơn Tự'.

Nơi đây, hàng năm chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ lụt. Mùa nước nổi ở Tuyên Bình thường bắt đầu vào khoảng tháng 6 và kéo dài đến tháng 11 âm lịch. Khi ấy bốn bề trắng xóa nước, còn chùa Nổi thì bật lên  giữa những tán cây cổ thụ cao ngất, xanh rì. Muốn qua chùa, chỉ còn cách bắt xuồng, ngồi ghe...

Người ta đến đây không chỉ để chiêm ngưỡng một ngôi chùa cổ có niên đại 'cổ lai hy' mà còn để tìm hiểu về ngôi chùa với kỳ tích được lưu truyền trong dân gian, qua bao mùa lũ đỉnh cao, chùa vẫn không bao giờ bị chìm chân dưới nước.

Chùa Nổi không lớn, kiến trúc đơn giản nhưng luôn đông khách thập phương vì nơi  đây được xem là chốn thuần khiết cho đời sống tín ngưỡng, tâm linh và mang đậm nét văn hóa cổ xưa. Nhiều người đến nơi đây còn được nghe một câu nói vui: "Muốn nổi thì phải đi chùa Nổi vào mùa nước nổi". Bởi khi ấy giữa bốn bề là nước, chùa Nổi bật lên giữa những tán cây cổ thụ cao ngất, xanh rì. Muốn tới chùa, thì chỉ còn cách ngồi xuồng mà đi qua sông.

Một số tài liệu viết rằng chùa được xây dựng vào năm 1823, do thiền sư Thiện Nhiêu tạo dựng. Sư trụ trì hiện nay của chùa là sư thầy Thích An Phát cho biết: "Tính đến nay chùa đã tồn tại khoảng 250 năm. Tôi cũng không rõ chùa được dựng vào năm nào. Trải qua thời gian và hai cuộc chiến tranh ác liệt, chùa đã bị hư hỏng nặng. Ngôi chùa hiện tại được sửa chữa lại và xây dựng thêm vào năm 1985".

Cùng với chùa Gò Ô ở Hưng Điền A, chùa Nổi là một trong những di tích tại Long An mang đậm nét "Văn hóa Rạch Núi" của cộng đồng cư dân nông nghiệp lâu niên ở Nam bộ. Tại đây, năm 2002, những nhà khảo cổ đã thu nhặt được nhiều di vật liên quan đến kiến trúc cổ thuộc văn hóa Óc Eo như gạch xây dựng, diềm ngói, đầu ngói búp sen và nhiều mảnh gốm.

Trong đó, có phần đế của một tượng Phật tham thiền bằng sa thạch, hình tròn, màu xanh lục, được phủ một lớp patine mỏng màu xám nâu, vốn rất quen thuộc trong nhiều di tích thuộc văn hóa Óc Eo.

Ngồi trên chuyến phà lộng gió băng ngang sông Vàm Cỏ Tây qua chùa Nổi mùa nước nổi, nhìn bông điên điển lốm đốm vàng dọc bờ sông, ai đó nghêu ngao câu hát quen thuộc: "Gió Tháp Mười đã thổi rất sâu... Bầu trời thì cao mà cánh đồng thì rộng. Mà anh đi đâu... về đâu...?".

Câu hát cứ như lời trách móc giữa "bến và bờ". Bởi chùa Nổi không chỉ là nơi đến cầu nguyện ơn trên mà còn là địa điểm để thề nguyền răng long đầu bạc.

Chùa Nổi xa xôi cách trở nhưng chưa bao giờ vắng khách phương xa. Người ta đến chùa Nổi không phải để muốn "nổi" như cách nói vừa đùa vừa thật mà còn là muốn chiêm ngưỡng một Cổ Sơn Tự (tên khác của chùa Nổi), uy nghiêm trên gò đất nhỏ ở vùng giáp ranh với đất bạn Campuchia; muốn hiểu thêm vì sao ở vùng rốn lũ của Tháp Mười, 300 năm trước, những người khai phá đã chọn nơi này để xây một ngôi chùa mà qua bao mùa lũ đỉnh cao, chùa vẫn không hề chìm chân dưới nước.

Đến chùa Nổi vào mùa nước nổi bao giờ cũng hấp dẫn hơn. Từ bến xe miền Tây, người ta mua vé thẳng về Mộc Hóa rồi bắt xe ôm đi đến bến phà chùa Nổi (giá xe ôm ban ngày 15.000đ, ban đêm 20.000đ).

Lênh đênh trên phà qua sông Vàm Cỏ Tây, bạn có thể cảm nhận không khí hào hùng từ thời Nguyễn Trung Trực vọng về. Nếu đến đúng dịp lễ chùa, bạn sẽ được "hậu liêu" Cổ Sơn Tự chiêu đãi miễn phí những món kèo nèo, rau hẹ nước, bông súng, bông điên điển chấm mắm tương kho, sau khi được đại sư trụ trì bốc cho một quẻ âm dương thường lành nhiều dữ ít.

Chúng tôi hỏi sư thầy về câu chuyện dân gian tương truyền rằng, vào mùa nước lũ, cứ nước dâng đến đâu, ngôi chùa này lại nổi lên đến đó, không bao giờ ngập nước. Thầy Thích An Phát kể: "Tôi cũng không biết ngôi chùa này có nổi lên theo nước lũ hay không. Nhưng tôi đã tu tại chùa này khi còn là một thanh niên trẻ, tới nay đã gần 30 năm. Có những năm nước ròng lên đến đỉnh điểm, bốn bề trắng nước, thì ngôi chùa này vẫn không hề bị ngập. Khi ấy, nơi đây trở thành nơi chạy lũ của bà con quanh vùng".

Thầy trụ trì còn kể thêm một câu chuyện lưu truyền lại trong dân gian: 300 năm trước, nơi đây chỉ là một cái gò đất nổi lên giữa một bên là cánh đồng, một bên là dòng sông Vàm Cỏ Tây hoang vắng. Lũ trẻ chăn trâu thường chọn cái gò đất này làm nơi dừng chân, nô đùa cùng nhau. Chúng đào những chỗ đất ướt trên gò nhào nặn thành hình những ông tượng để chơi. Nhiều khi mải chơi quá mà bỏ quên cả bầy trâu.

Cha mẹ bọn trẻ giận quá mới đem những bức tượng đất quăng hết xuống sông Vàm Cỏ Tây. Nhưng có điều lạ là những tượng đất này không chìm mà nổi trên mặt nước. Dân làng thấy vậy cho đây là chốn lạ lùng, linh thiêng mới lập nên một ngôi chùa để quanh năm thờ phụng, cầu nguyện.

Ra đến cổng, chúng tôi gặp một ông lão dừng chân tránh nắng nơi bóng cây trước cổng chùa, tên Hai Chiến. Ông Chiến kể, ông sống ở vùng này đã hơn 60 năm. Năm nào vùng này cũng trắng xóa nước vào mùa nước nổi. Những năm gần đây, cuộc sống khá hơn, một số bà con đã có điều kiện nâng nền nhà mình lên cao hơn tránh lũ. Còn những năm trở về trước, mỗi khi lũ về gần như nhà nào cũng bị ngập, phải chạy lũ cực lắm. Bà con thường tìm đến chùa này xin tránh lũ. Thật kỳ lạ, ngôi chùa này nói là cao, nhưng cũng chẳng cao hơn xung quanh bao nhiêu. Vậy mà nước lũ có lên đến đâu cũng không bao giờ dâng được vào chùa".

Quan sát thì thấy, đúng là ngôi chùa này nằm trên một cái gò chỉ cao hơn so với xung quanh chút ít. Nhất là so với cây cầu treo chót vót, cao hơn mặt sông chừng 2- 3mm, bắc ngang sông Vàm Cỏ Tây, thì đứng ở chùa chỉ có thể ngước mặt mà nhìn lên. Ấy vậy nhưng vào mùa nước nổi, người ta vẫn không qua sông bằng đường bộ được, mà chỉ có thể ngồi xuồng, ghe mà qua chùa. Bởi vì khi ấy, con đường dẫn vào chùa sát ven sông bị ngập nước không còn lối đi. Phải chăng, điều này mãi mãi là một sự huyền bí chưa có lời giải đáp của ngôi chùa nằm trên gò nổi thiêng của miền đất Phật độ?        

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ PhattuVN, PhunuToday, internet

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Những ngôi chùa đặc biệt ở TPHCM

Không chỉ là nơi giúp con người lấy lại cân bằng, chùa chiền còn là nơi lưu giữ những dấu tích đặc sắc về kiến trúc, văn hóa, lịch sử...

Giác Lâm – chùa "lớn tuổi" nhất 

Chùa Giác Lâm thành lập năm 1744 là một trong những ngôi chùa có mặt sớm nhất ở đất Gia Định còn tồn tại đến nay, do cư sĩ Lý Thụy Long, người Minh Hương, xây dựng.

Kiến trúc chùa Giác Lâm được coi là tiêu biểu cho lối kiến trúc của các chùa Nam Bộ, với mặt bằng tổng thể theo kiểu chữ Tam, gồm 98 cột chống đỡ, bên trong bài trí 113 pho tượng cổ với nhiều chất liệu khác nhau.

< Bảo tháp xá lợi gồm 7 tầng hình lục giác nằm ở phía trước chùa Giác Lâm.

Chùa là ngôi Tổ đình danh tiếng bậc nhất, chứa đựng nhiều tư liệu quý báu về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, tôn giáo như hoành phi, câu đối, bàn thờ, đồ thờ cổ... Riêng bộ tượng Thập Bát La Hán là minh chứng rõ nét nhất cho quá trình phát triển của Phật giáo ở Nam bộ.

Điểm đặc sắc trong trang trí là chùa đã sử dụng gần 7.500 chiếc đĩa kiểu cẩn dọc theo hai mặt tường của Tây đường, điện Phật, tháp Tổ, nóc mái... và được trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập là ngôi chùa có số lượng đĩa kiểu trang trí nhiều nhất Việt Nam.

Địa chỉ: 118 Lạc Long Quân, P. 10, Q. Tân Bình, TPHCM.

Chùa Vĩnh Nghiêm – Nơi có tháp đá cao và công phu nhất Việt Nam

Chùa Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa lớn và nổi tiếng của TPHCM. Con đường phía trước chùa từng là nơi ghi dấu trận chiến cuối cùng của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi năm 1964.

Ngoài ra chùa còn được ghi nhận là nơi có tháp đá cao nhất và công phu nhất Việt Nam, với 7 tầng, cao 14 m được khánh thành năm 2003. Tháp được xây dựng với nghệ thuật trổ đá dày đặc, công phu với hoa văn, họa tiết điêu khắc phủ kín… tất cả đều theo phong cách văn hóa Lý - Trần.

Địa chỉ: 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.7, Quận 3, TPHCM.

Chùa Hoằng Pháp – Nổi tiếng với khóa tu mùa hè dành cho teen

Chùa Hoằng Pháp, nổi tiếng là nơi thu hút các tín đồ Phật giáo đến tham quan và tham gia các khóa tu Phật nhất. Trong đó có khóa tu hè trong vòng 7 ngày, rất được các teen hưởng ứng.

Đến đây, bạn được học cách tự chăm sóc bản thân, biết yêu thương, chấp nhận những vấp ngã, khó khăn như là những điều tất yếu. Trong 7 ngày mọi kết nối bên ngoài đều bị cắt đứt, teen phải tập sống “cách ly” với gia đình, không TV, không điện thoại, không internet,…

Khóa tu mùa hè còn là môi trường tâm linh lành mạnh, giúp bạn cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần, hóa giải buồn phiền, xây dựng hành trang cần thiết cho tương lai, tìm về về những giá trị sống đích thực. Những bài học Phật pháp không hề khô khan mà trở nên sinh động không ngờ nhờ sự lồng ghép dí dỏm của các thầy. Những quy tắc sinh hoạt nghiêm khắc như đi ngủ, thức dậy sớm… giúp teen “cai nghiện” máy tính. Đây là khóa tu hoàn toàn miễn phí.

Địa chỉ: Xã Tân Hiệp, Hóc Môn, TPHCM.

Xá Lợi – Chùa có tháp chuông cao nhất Việt Nam

Chùa Xá Lợi không chỉ được biết đến với kiến trúc và cảnh quan tuyệt đẹp mà còn khá nổi tiếng với những dấu chứng lịch sử về cuộc đấu tranh của Phật tử chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm kỳ thị và đàn áp tôn giáo.

Chùa được xây dựng để thờ xá lợi Phật tổ nên được đặt tên là chùa Xá Lợi. Chùa Xá Lợi là ngôi chùa đầu tiên của thành phố được xây dựng theo lối kiến trúc mới, trên là bái đường, phía dưới là giảng đường.

Chùa nổi tiếng là nơi có tháp chuông cao nhất Việt Nam gồm 7 tầng, cao 32 m, khánh thành  năm 1961. Tầng cao nhất có treo một đại hồng chuông nặng 2 tấn, với tiếng chuông ngân nổi tiếng, từng được nhiều thế hệ biết đến qua bài vọng cổ “Tiếng chuông chùa Xá Lợi” do soạn giả Viễn Châu sáng tác.

Địa chỉ: 89 Bà Huyện Thanh Quan, P. 7, Q. 3, TPHCM.

Nam thiên đệ nhất trụ - Chùa Một Cột ở miền Nam

Ngoài Chùa Một Cột cực kỳ nổi tiếng ở Hà Nội, TPHCM cũng có một nơi tương tự. Đó chính là “Nam Thiên nhất trụ” gọi nôm na là chùa Một Cột ở miền Nam, do hòa thượng Thích Trí Dũng dựng vào năm 1958 và hoàn tất vào năm 1977.

Nam Thiên Nhất Trụ tuân thủ khuôn mẫu Thăng Long nhất trụ (Chùa Một Cột ở Hà Nội) nhưng thấp và nhỏ hơn. Nhìn từ cổng tam quan, Nam Thiên Nhất Trụ được dựng giữa lòng hồ Long Nhãn, với hoa sen dập dìu trên sóng nước, vừa tạo nét gần gũi tinh khiết, vừa tạo nên không gian thanh tịnh.
Ngoài ra, đến đây bạn còn được chiêm bái tượng Đức Địa Tạng nặng 61 kg được đúc bằng kim loại quý.

Địa chỉ: 511 Đặng Văn Bi, P. Bình Thọ, Q. Thủ Đức, TPHCM.

Vạn Đức – Chùa có chánh điện cao nhất Việt Nam

Tòa chánh điện chùa Vạn Đức cao 43,5 m, là tòa chánh điện cao nhất hiện nay. Công trình mất 2 năm với hơn 60 thợ xây để thực hiện. Ngoài giá trị về mặt thẩm mỹ, thâm nghiêm, công trình còn là một kiểu mẫu cho nghệ thuật tạo hình trong kiến trúc hiện đại.

Địa chỉ: 23/4 Tô Ngọc Vân, P. Tam Phú, Q. Thủ Đức, TPHCM.

Du lịch, GO! - Theo Huyền Châu (Zing/BĐVN), internet

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2012

Sống thiền ở Linh Ẩn tự

Đường đến Linh Ẩn tự - thiền viện Trúc Lâm thứ hai của Đà Lạt - qua nhiều con dốc quanh co với những đồi thông nhấp nhô, nhiều hình thù lạ mắt. Qua bản làng đồng bào người Nùng (xã Tà Nùng), bạn sẽ đến thị trấn Nam Ban, nơi Linh Ẩn tự tọa lạc.

Từ tỉnh lộ 725, thấp thoáng dưới rừng thông, Linh Ẩn tự hiện lên như đầu một con rồng phun nước. Nằm trên độ cao 1.080m, ở thế “tọa sơn ngọa thủy”, sau chùa có đồi thông xanh ngút ngàn, trước mặt có thác Voi ào ào tuôn chảy quanh năm nên không khí ở chùa luôn luôn mát mẻ, yên tĩnh.

Du khách đến với Linh Ẩn tự ai cũng trầm trồ khen ngợi vị sư trụ trì, thượng tạo Thích Tâm Vị - khi ngài có con mắt tinh tế khi chọn địa thế để xây dựng ngôi chùa cho bà con người Hà Nội đi xây dựng kinh tế mới ở Lâm Hà (Lâm Hà ghép từ hai địa danh Hà Nội và Lâm Đồng).

< Linh Ẩn tự ẩn hiện nhìn từ thác Voi.

Nằm ở chốn “thâm sơn cùng cốc” nhưng kiến trúc Linh Ẩn tự vẫn toát lên vẻ hiện đại và thân thiện với thiên nhiên. Toàn bộ diện tích đất hơn 4 ha của chùa được phủ xanh với những loại cây rừng như gió, sộp, si, bằng lăng…

Nơi hoành tráng nhất của chùa là Tòa chánh điện (khởi công năm 1999), rộng trên 1.400m², lợp ngói đỏ. Phía tiền điện, hai bên bậc cấp dẫn lên chánh điện nội là hai con rồng tinh xảo đắp bằng xi măng dài 20 mét.

< Phía sau Linh ẩn Tự.

Còn sau những nhành hoa bằng lăng tím nở trái mùa, trên nền trời trong xanh, tượng Di Lặc sừng sững hiện ra, tượng cao 12,5m, rộng 6,5m, ngang 9m (chiếm trên 630m³  không gian).

Bên trái vườn dựng tượng Thích Ca thành đạo, vườn Lâm Tỳ Ni… Theo gợi ý “sao không qua đêm ở chùa để đêm nằm nghe thác đổ” của thầy tri viên Thích Hạnh Viên (thầy chăm sóc hoa cây cảnh của chùa), chúng tôi liền thử sống chốn thiền môn một đêm.

Trong khuya vắng, tiếng chuông chùa thời kinh tịnh độ thi thoảng ngân vang hòa cùng tiếng thác rì rầm đổ khiến không gian trở nên yên ả, thanh tịnh lạ thường.

Một đêm, chỉ một đêm sống nơi già lam nghiêm tịnh của miền rừng núi Lang Biang mà trong lòng chúng tôi nhẹ tênh như vứt bỏ mọi phiền muộn của cuộc sống bon chen thường nhật và thức dậy miệng không khỏi mỉm cười...

< Tượng Phật Di Lặc sừng sững nở nụ cười hỷ lạc chào đón du khách.

Linh Ẩn tự cách thành phố du lịch Đà Lạt 22 km, từ lâu đã trở thành điểm đến lý tưởng của nhiều du khách, đặc biệt là du khách Tây phương ưa mạo hiểm, thích khám phá và tận hưởng sắc màu Đông phương. Chùa Linh Ẩn cách TP.HCM khoảng 300 km, cách Buôn Ma Thuột chừng 200 km và cách Phan Thiết chưa tới 200 km.

Có hai đường đến chùa Linh Ẩn: từ TP.HCM qua QL27 đến Cửa rừng rồi đi về thị trấn Nam Ban hay từ Đà Lạt theo đường Hoàng Văn Thụ qua thác Cam Ly đi thẳng về Nam Ban.

Du lịch, GO! - Theo Phạm Văn Ký (Thanhnien), ảnh internet

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2012

Chùa Hải Tạng: ‘Bậc thầy’ kiến trúc phong thủy

Chùa ở thế phong thủy lý tưởng, tọa lạc sát chân núi phía Tây của Hòn Lao thuộc Cù Lao Chàm, lưng tựa núi, mặt tiền xoay hướng Tây – Tây Nam nhìn thẳng núi Bà Mộc như thể hòn xôi án ngữ.

Chùa Hải Tạng ở vào vị thế lý tưởng, bởi sự thông thoáng, tiền hậu, tả hữu phân minh. Theo truyền thuyết, các cây cột được làm từ ngoài Bắc đem về làm một chùa nào đó trong Nam nhưng khi về đến Cù Lao Chàm vì trời tối nên phải neo ghe nghỉ lại. Sáng ra, ghe kéo neo đi tiếp, nhưng thật lạ lùng, biển tự dưng sóng dậy, ghe cứ xà quần, tới lui lòng vòng không đi ra khỏi Lao. Sau có người trong đoàn lên cúng xin keo mới biết dàn cột này phải để lại dựng chùa cho Cù Lao Chàm không được đem đi. Vì thế chùa dựng lên lấy tên là Hải Tạng. Hải là biển, Tạng là kinh, ý nói Chùa là nơi hội tụ kinh tạng mênh mông như biển. Một ý khác là Kinh tạng của Nhà Phật đây được hội tụ từ mọi con đường trên biển.

Lịch sử Hội An có ghi, chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758) ở vị trí cách nơi này khoảng 200m về hướng đông bắc, sau vì do bão làm hư hại nặng và để thuận tiện cho các tín đồ đến hành lễ nên vào năm Tự Đức nguyên niên (1848) chùa dời về vị trí hiện nay.

Ngay dưới chân là đồng ruộng, khu dân cư và mờ xa về đất liền là Đô thị cổ Hội An. Phía Nam có khoảng trống gió lùa trải dài qua Rừng Cấm (nay là Xóm Cấm) đưa hơi nước từ Hòn Nhờn lướt qua trước mặt thổi lên khu dốc Chùa.

Lưu truyền, trước đây khu này rừng rậm có nhiều trăn, rắn độc. Vì thế, để an toàn, tường thành bao bọc xung quanh chùa được xây bằng đá, cổng tam quan phía trước gồm 3 lối vào, tam quan tạo dáng vòm, mái lợp ngói âm dương và đắp nhiều con giống.

Toàn bộ tam quan cao 5m, rộng nhất 1,5m, dài 6m. Kề ngay đấy là 4 trụ biểu, trên chóp trụ có khối hình hoa sen cánh lật… Dù thiên nhiên khắc nghiệt, lại phải đương đầu với nhiều trận cuồng phong hàng trăm năm qua nhưng đến nay, công trình chính vẫn vững vàng, bề thế.

Tuy nhà Tây đã bị sập hoàn toàn, nhà Đông còn lại phần kiến trúc chính nhưng toàn bộ di tích vẫn toát lên vẻ hào sảng uy nghiêm hiếm thấy ở các di tích khác. Chính điện lợp ngói âm dương, bờ nóc, bờ hồi đắp nổi nhiều đường nét uốn lượn mềm mại, uyển chuyển tạo cảm giác nhẹ nhàng.

Lùi vào mái hiên khoảng 2,5m là hệ thống cửa (thường khép kín), thượng song hạ bản, gồm 3 bộ, mỗi bộ 4 cánh ngăn không gian bên ngoài với không gian nội thất. Toàn bộ nếp nhà chính này có hệ vì kèo kết cấu kiểu “chồng rường giả thủ” chia làm 3 lòng.

Việc mở rộng diện tích ở đây được sử dụng biện pháp tăng thêm lòng nhà bằng cách tăng cường hệ liên kết các cây rường, cột cái, cột quân và giả thủ trong thế đỡ thẳng lên đòn tay (hoành), lòng 3 của mái trước được ngăn cách bởi hệ thống cửa tạo thành mái hiên. Với lối kiến trúc này, cộng với liên kết ngang gồm 4 vì (vài) chia làm 3 gian, tạo cho không gian nội thất của chùa thông thoáng, vừa có chiều cao, vừa có chiều sâu và mở rộng.

Du lịch, GO! - Theo Lâm Anh (Tienphong)

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Trầm mặc tháp Chăm

Di tích tháp Poklongarai (Po Klong Garai) là quần thể tháp Chàm được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14, nằm trên đồi Trầu, (Phan Rang - Tháp Chàm, Ninh Thuận). Đây là một công trình độc đáo, được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật và điêu khắc Chăm.

< Cổng vào tháp Po Klong Garai.

Quần thể này gồm ba tháp: Tháp chính (nơi vua ở, cao 20,50 m, dài 13,80 m, rộng 10,71 m - đây là tháp để thờ phượng và hành lễ trong năm); Tháp lửa (bếp lửa của vua, cao 9,13 m, dài 8,18 m, rộng 5 m) và Tháp cổng (nơi vua tiếp khách, cao 5,65 m, dài 5,10 m, rộng 4,85 m) được xây dựng để thờ vua Poklongarai (poklongarai là tên gọi của dân tộc Chăm đối với Vua SINHAVARMAN III (tên hiệu tiếng Phạn) trị vì, từ 1152 đến 1205 - vị vua có công lớn trong việc xây dựng hệ thống dẫn thủy ở địa phương.

Theo truyền thuyết của dân tộc Chăm, có một cặp vợ chồng nông dân nhìn thấy một đứa trẻ sơ sinh nằm trên bọt nước, trôi từ thượng nguồn dòng sông Dinh (chảy qua địa phận huyện Ninh Sơn và qua thị xã Phan Rang - Tháp Chàm đổ ra bể). Tiếng khóc của đứa trẻ đã làm động lòng cặp vợ chồng làm rẫy gần đấy và họ đã đem bé về nuôi. Họ đâu biết, đứa trẻ này được bề trên phái xuống để thử lòng dạ người trần.

Trời làm cho đứa bé bị ghẻ lở đầy người, mà các thầy thuốc giỏi trong vùng đều không thể chữa khỏi, cốt ý để xem cặp vợ chồng này đối xử như thế nào với đứa bé. Sau đó, trời cho Rồng vàng xuống trần, liếm hết những vết ghẻ lở trên người của cậu bé đang chăn trâu rồi nằm nghỉ trưa ở ngoài đồng. Cậu bé sau đó trở nên khôi ngô tuấn tú khác thường... Sau khi vị vua trị vì mất, nghe lời của một vị chiêm tinh, cậu bé (sau này đã trưởng thành) được phong làm vua, lấy tên hiệu là Poklongarai...

Huyền thoại dân tộc Chăm ở Ninh Thuận còn gắn liền với sự nghiệp xây dựng tháp và giữ đất của vua Poklongarai khi người Tàu đến chiếm đất của người Chăm. Theo truyền thuyết, vua Tàu và vua Chăm đưa ra một cuộc thi xây tháp, bên nào xây xong tháp trước trong thời gian đã quy định thì bên ấy được ở lại giữ đất, ngược lại bên nào xây chậm hơn thì phải rút quân đi. Vua Tàu đốc thúc quân lính đào đất nung gạch, xây tháp suốt bốn tháng trời mà tháp vẫn chưa xong.

Trong khi đó vua Poklongarai thì ung dung thong thả. Vào đêm cuối cùng của thời giao hẹn, Poklongarai mới cho quân dựng lên một khung tháp với chất liệu gỗ và trét phên tre lên rồi phủ thêm vải đỏ bên ngoài. Đến sáng ngày hôm sau quân Tàu từ xa đã trông thấy tháp của vua Chăm trụ sừng sững trên đồi mà không hiểu vua Chăm đã có phép lạ gì mà xây tháp nhanh như thế. Không biết mình đã bị lọt bẫy vì cái kế: "Xây tháp giả bằng gỗ" của Poklongarai. Cuối cùng, vua Tàu đành phải chấp nhận rút quân đi khỏi đất của người Chăm như đã giao kết.

Di tích tháp Poklongarai gắn liền với tín ngưỡng truyền thống của đồng bào Chăm ở địa phương. Hằng năm, nhân dân Chăm đều tổ chức các ngày lễ hội ngay tại tháp để tưởng nhớ đến công ơn của vị vua Poklongarai.
Mỗi năm, đồng bào Chăm có bốn lễ hội đặc biệt với những nghi thức riêng, bao gồm: Lễ Đầu năm (vào tháng giêng theo lịch Chăm) là lễ mở cửa tháp để bắt đầu một năm mới với những thành quả mới của dân tộc mình; Lễ cầu mưa (vào tháng 4 theo lịch Chăm) là lễ cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi.

Lễ hội Katê (tổ chức vào tháng 7 theo lịch Chăm), đây cũng được xem là lễ Tết lớn nhất trong năm của đồng bào Chăm. Trong lễ hội Katê, tất cả những người Chăm hiện đang sinh sống ở nhiều miền quê khác nhau đều hội tụ đông đủ về đây để gửi gắm những tâm sự thiêng liêng của mình và của gia đình đối với tổ tiên. Trong suốt 3 ngày diễn ra lễ hội, du khách đến tham quan còn được thưởng thức điệu múa quạt, vũ điệu siva thướt tha dịu dàng của các cô gái Chăm cùng với nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo khác. Cuối cùng là Lễ Chabun (tổ chức vào tháng 9 theo lịch Chăm) đây là ngày lễ cha, theo tín ngưỡng của đồng bào Chăm.

Nếu có dịp ghé thăm khu di tích Tháp Poklongarai, du khách sẽ được thưởng thức những đường nét ngoạn mục với lối kiến trúc hình vòm, hình chóp nhọn, phù điêu trang trí mượn của nền văn hóa Chămpa cổ và văn hóa dân tộc Việt, được thưởng thức cái nắng và gió hơi "ngang tàng" nhưng rất đặc biệt của xứ sở Ninh Thuận này.

Từ tháng 3 chớm vào hè đến hết tháng 8 khá đông khách nội địa, ngày lễ có khi tới vài nghìn người tham quan. Từ tháng 9 cho đến tháng 2 năm sau thì phần lớn là khách nước ngoài đi theo tour, gần như không có khách Việt. Vé vào tham quan đồng hạng 10.000 đồng/lượt.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Thị Trường, Laodong

Du lịch tâm linh Bà Rịa- Vũng Tàu

Bà Rịa - Vũng Tàu là địa phương đứng thứ hai khu vực miền Đông Nam bộ về số lượng di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh. Trong số đó, có nhiều chùa, đình, đền thờ, miếu… là điểm đến hấp dẫn khách hành hương. Du lịch tâm linh là loại hình du lịch đặc biệt, luôn có sức hấp dẫn với du khách gần xa.

Du khách có thể đến Vũng Tàu nhân dịp đại lễ Phật Đản vào ngày Rằm tháng 4 (ÂL), thưởng thức ẩm thực chay vừa có lợi cho sức khỏe và để bảo vệ môi trường

Thích Ca Phật Đài là một ngôi chùa lớn ở thành phố Vũng Tàu, rộng 6ha, tọa lạc ở Tây Bắc sườn núi lớn, nổi bật với bức tượng Đức Phật Thích ca mâu ni tọa thiền được xây dựng vào ngày 20/7/1961.

Vẻ đẹp của ngôi chùa chính là sự kết hợp giữa kiến trúc tôn giáo và phong cảnh thiên nhiên, đáng chú ý ở ngôi chùa này là ngọn tháp Bát Giác cao 19m và tượng Phật Thích Ca ngồi thiền trên toà sen cao 10,2m đường kính khoảng 6m.

Tượng và tháp đều màu trắng và được dựng ở lưng chừng núi cao, đứng từ xa cũng chiêm ngưỡng được. Thích Ca Phật Đài là một địa điểm tôn giáo cũng như tham quan chủ yếu của thành phố Vũng Tàu.

Chùa Quan Âm Bồ Tát nằm trên đường vòng Núi Lớn, cách Bãi Dâu 500m được xây dựng vào năm 1976.

Chỉ là một ngôi chùa nhỏ nhưng nổi bật ở giữa khu vực chùa là một pho tượng Phật Bà Quan Âm cao 16m làm bằng xi măng cốt sắt theo hình tượng một phụ nữ hiền hòa đức độ mặt hướng ra biển tay cầm bình Cam Lộ, đứng trên toà sen. Đây là một ngôi chùa rất hiển linh và cũng là điểm tham quan của khách du lịch.

Chùa Phước Lâm Tự tọa lạc tại số 65 Nguyễn Bảo -phường 6, thành phố Vũng Tàu, được xây dựng vào năm 1886. Đây là một trong những ngôi chùa cổ ở thành phố Vũng Tàu, kiến trúc dạng tứ trụ của chùa cổ miền Nam.

Năm 1956, chùa được đại trùng tu, mặt tiền xây lầu. Năm 1993, chùa tiếp tục trùng tu, tạo cảnh quan thoáng đãng. Qua tam quan, ở ngay sân sau chùa có đài Quan Âm. Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Hai pho tượng lớn được tôn trí ở trung tâm là tượng đức Phật Thích Ca thành đạo và tượng đức Phật nhập niết bàn. Chùa còn giữ pho tượng cổ Visnu (thế kỷ thứ VII). Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia năm 1992.

Thiền Viện Chơn Không: nằm nép mình trong bốn bề núi rừng tĩnh mịch, trên triền núi Lớn, ở độ cao 80m, diện tích 2ha, tại 36/11 Viba, phường 6, TP. Vũng Tàu. Tháng 4/1966, Hòa thượng Thích Thanh Từ đã khai phá vùng đất Hòn Chụp – Núi Tượng Kỳ (Núi Lớn) và xây thất Pháp Lạc để tu học. Đến năm 1970, Hòa thượng cho xây thiền viện gồm: ngôi thiền đường, tăng đường, trai đường, nhà khách, thiền viện Bát Nhã (thiền viện cho chư Ni), hồ chứa nước. Năm 1995, thiền viện được kiến thiết thành một ngôi chùa thanh thoát, có dáng vẻ khang trang, uy nghiêm và cổ kính. Khuôn viên chùa rộng khoảng 2.000m², với một cảnh quan kỳ vĩ, quần thể kiến trúc độc đáo, là một thắng cảnh đẹp trong lòng thành phố thích hợp để du khách tham quan, lễ Phật.

Chùa Linh Sơn Cổ Tự tọa lạc ở số 61 đường Hoàng Hoa Thám, Phường 2, thành phố Vũng Tàu. Tuy không đồ sộ rộng lớn nhưng Linh Sơn Cổ Tự là ngôi chùa lâu đời nhất ở Vũng Tàu, được xây dựng trên triền núi Nhỏ.

Trong chánh điện có thờ một tượng Phật cao 1,2m bằng đá thếp vàng được tạc rất khéo léo và tinh xảo với vẻ mặt từ bi và sống động.

Chùa “Niết Bàn Tịnh Xá” còn gọi là chùa “Phật Nằm”, được xây dựng trên sườn núi nhỏ, hướng mặt ra biển, được xây dựng từ năm 1969 bằng tiền quyên góp của đồng bào phật tử, đây là một trong những ngôi chùa đẹp nhất ở Vũng Tàu với những đường nét kiến trúc hiện đại.

Ở phía trước chùa là một cột cờ cao 21m, được chia thành 42 bậc biểu tượng cho 42 trang kinh phật đầu tiên được lưu truyền vào Việt Nam vào thế kỷ thứ II, cổng chùa có 4 chữ “Niết Bàn Tịnh Xá” tức là nơi thanh cao nhất của đạo Phật.

Hai bên cổng chùa là 2 pho tượng “Thần Thiện” và “Thần Ác”, khu chánh điện đựợc bài trí thành một vườn hoa Sa La theo cảnh Đức Phật nhập Niết Bàn.

Nổi bật là bức tượng “Phật Nằm”, dài 12m tượng trưng cho “Thập nhị nhân duyên” và được đặt lên bộ thờ 2,5m, phía trước chính điện có một chiếc lư đồng lớn với hình tượng tú linh Long, Lân, Quy, Phụng. Song song với lư ở hai bên là hai tòa tháp cao khoảng 5m. Tòa bên trái có tượng Phật A Di Đà, tòa bên phải có tượng Phật Dược Sư. Tầng hai có chiếc thuyền rồng còn gọi là Thuyền Bát Nhã, dài 12m.

Hòn Bà là ngôi Miếu tuy nhỏ nhưng mang nét cổ kính nằm trên mỏm đá gần bờ biển, cách chân núi Nhỏ khoảng 200 mét, vốn là một thắng cảnh hữu tình bởi dáng vẻ nhỏ xinh duyên dáng như một thiếu nữ tuổi tròn trăng. Sự kết hợp hoàn hảo giữa đá và biển tạo nên nét đặc trưng của Hòn Bà.

Vào những lúc bình minh hay hoàng hôn, Hòn Bà lại càng mang cho mình vẻ đẹp rực rỡ do những ánh nắng nhẹ phản chiếu, lung linh mờ ảo. Đặc biệt vào những đêm trăng sáng, Hòn Bà hiện ra như một bức tranh thủy mạc lung linh, kỳ bí, quyến rũ vô cùng. Du khách muốn vãn cảnh chùa phải đi bằng thuyền thúng sang hoặc lúc thủy triều rút cạn dễ dàng đi bộ qua bãi đá

Trong chuyến đi du lịch vãn cảnh chùa đầy ý nghĩa, du khách vừa có dịp thưởng lãm danh lam thắng cảnh của Vũng Tàu, được ngắm khung cảnh thanh tịnh, lắng nghe tiếng chuông chùa ngân vang cho tâm hồn thư thái, tìm cảm giác bình yên và được thưởng thức các món ăn được chế biến từ chính những thực phẩm thuần chay thiên nhiên bổ dưỡng.

Du khách có thể dùng những bữa cơm chay tại chùa hoặc tại các nhà hàng, quán ăn chay tại Vũng Tàu. Nhà hàng chay Quy Nguyên số 253 Nguyễn An Ninh - TP.Vũng Tàu với thực đơn phong phú đặc biệt là món cơm Quy Nguyên đã đoạt giải tại liên hoan ẩm thực các tỉnh, thành phố ven biển năm 2012 tổ chức tại Chợ du lịch Vũng Tàu.

Du lịch, GO! - Theo Thi Vân (Báo Du Lịch), ảnh internet

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Khu di tích Am Tiên

Khu di tích lịch sử - văn hóa Am Tiên - nằm trên đỉnh một ngọn núi cao ở phía Nam của dãy núi Nưa, thuộc xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Đây là một khu di tích lịch sử thắng cảnh nổi tiếng gắn liền với cuộc khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Ngô vào năm 248 trước công nguyên. Xung quanh vùng núi Nưa vẫn còn lưu truyền nhiều địa điểm, địa danh gắn liền với căn cứ kháng chiến của Bà như: Gò đống thóc (nơi để kho lúa của nghĩa quân), Đồng kỵ (nơi nuôi ngựa chiến của nghĩa quân)… Đỉnh núi Nưa – nơi có động Am Tiên là một khu đất rộng và khá bằng phẳng. 

Tuy ở độ cao 585m nhưng ở đây vẫn có mạch nước ngầm chảy ra trong vắt và không bao giờ cạn, đã tạo thành một cái giếng tự nhiên rất đặc biệt mà dân gian đặt tên là giếng Tiên, tương truyền là giếng dành riêng để Bà Triệu lấy nước rửa mặt mỗi khi xung trận, phía dưới vài trăm mét có một hố nước rộng gọi là Ao Hóp, tương truyền là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho nghĩa quân bà Triệu.

< Con đường lên đền Am Tiên dù nhầy nhụa bùn vẫn tấp nập du khách tới cầu tài lộc, cầu bình an.

Trên đỉnh Núi Nưa, ngoài động Am Tiên, Giếng Tiên còn có bàn cờ Tiên, vườn thuốc Tiên và vườn đào Tiên mà sử sách và truyền thuyết đã nhắc đến như một trung tâm của sự tu tiên đắc đạo. Ở nơi nên thơ và quyến rũ này còn có ngôi chùa cổ gọi là chùa Am Tiên, đền chúa Thượng Ngàn (Bà Triệu hoá thân theo cách nghĩ của dân gian) và miếu Tu Nưa thờ vị đạo sĩ thời Trần – Hồ.

Ngoài ra ở đây còn có cả một khu vực thờ lộ thiên để thờ cúng thần núi Tản Viên Sơn Thánh. Theo dấu tích của nền móng cũ, trong gần 20 năm qua, nhân dân địa phương đã tự nguyện đóng góp tiền của, công sức để dựng lại chùa Am Tiên, đền Bà Chúa, đền Tu Nưa để thờ phụng.

Ở khu vực Am Tiên, nhân dân còn thu gom được nhiều hiện vật có giá trị minh chứng về sự tồn tại lậu đời của các loại hình kiến trúc,tín ngưỡng tôn giáo Phật - Đạo - Mẫu trên đỉnh núi cao nhất ngàn Nưa này.

< Giếng Tiên.

Và cũng chính vì vậy mà khu vực Am Tiên trên đỉnh núi Nưa không chỉ là nơi luyện trí mài gươm của nghĩa quân Bà Triệu mà còn là vùng huyệt đạo linh thiêng thu hút hàng vạn lượt người từ các nơi về tham quan hành hương, thưởng ngoạn, dâng hương chiêm bái nhất là vào dịp lễ hội tháng Giêng hằng năm.

Ngày 27/3/2009, di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh núi Nưa - địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu (gồm Núi Nưa - Đền Nưa - Am Tiên) đã được nhà nước xếp hạng di tích - thắng cảnh cấp quốc gia. Đây là niềm tự hào đối với nhân dân huyện Triệu Sơn nói riêng và nhân dân xứ Thanh nói chung.

< Du khách thập phương tìm đến chùa Am Tiên cầu may mắn, an lành.

Ngày 22/8/2011, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có Quyết định 2723/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - danh lam thắng cảnh - địa điểm khởi nghĩa Bà Triệu gắn với phát triển du lịch.

Ngày 26/9/2011, UBND tỉnh ra quyết định về việc ban hành quy định quản lý theo đồ án Quy hoạch nói trên. Theo đó, Thanh Hóa sẽ tiến hành bảo tồn, tu bổ các di tích gốc như đền Nưa, cảnh quan núi Nưa và giếng Tiên; phục hồi các công trình đã có nhưng bị phá hủy như đền Bà Triệu, chùa Phủ, chùa Ngoài, đền Tu Nưa, động Đào, ao Hóp, Am Tiên, khe Đá Bàn...

< Du khách ai cũng muốn xin nước ở giếng Tiên để mang về.

Để một di tích xứng tầm quốc gia, trở về đúng với giá trị của nó thì việc bảo tồn, tôn tạo, xây dựng là điều hết sức cần thiết. Rất cần sự quan tâm, đầu tư của các cấp, các ngành chức năng, các doanh nghiệp hảo tâm trong và ngoài tỉnh.

Du lịch, GO! - Theo Hoàng Năng Hùng (Baodulich), internet

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Đến Mẫu Sơn nghe chuyện huyền bí

Du khách thường tìm đến Mẫu Sơn để tìm cảm giác lần đầu tiên thấy băng tuyết trên quê hương, nhưng ở đây không chỉ có tuyết...

Với một chút máu phiêu lưu, du khách sẽ tìm thấy nhiều điều kỳ thú ở đây nhưng phải chịu cảnh đi xuyên rừng, có khi đổ đèo dốc thăm thẳm, rồi lại băng lên những cửa ải hùng vĩ. Nếu đi vào mùa khô phải men theo khe suối, còn mùa mưa phải lần trên các gò đồi cao tránh suối lớn, trơn trượt...

Điểm đến cần khám phá này là khu linh địa cổ Mẫu Sơn thuộc địa phận xã Mẫu Sơn, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn. Để khám phá linh địa cổ Mẫu Sơn, từ Hà Nội chúng ta có thể đi ôtô khách hoặc xe máy. Nhưng để chủ động và thích hợp với phong cách khám phá thì chúng ta nên đi bằng xe máy bởi hơn 180km không phải là quá xa.

Nên đi vào buổi chiều để tối chúng ta ngủ tại TP Lạng Sơn lấy sức chuẩn bị cuộc hành trình khám phá với hơn 8g. Nên đi với số lượng 4-5 người trở lên và càng mang đồ gọn nhẹ càng tốt.

Lỡ hẹn với... băng tuyết

Lần nào cũng vậy, mỗi khi trời dưới xuôi rét đậm tôi lại nghĩ ngay tới băng tuyết Mẫu Sơn. Nhìn các tấm ảnh cành cây, nhành hoa bị băng tuyết bao phủ trong vắt như pha lê mà người bạn ở Lạng Sơn gửi về khiến tôi không khỏi ước ao được một lần chứng kiến, được tự tay chụp những khoảnh khắc hiếm đó.

< Những hiện vật vương vãi khắp nơi trong khu linh địa.

Có lẽ do chúng tôi chưa bén duyên với sự xuất hiện của băng tuyết Mẫu Sơn. Đợt rét gần đây nhất cậu bạn gọi điện báo xuất hiện băng tuyết, tôi vội vã nhảy lên con Dream “chiến” lên đường. Thế nhưng khi mới tới trung tâm huyện Chi Lăng thì bất ngờ trời xứ Lạng hửng nắng… Một trải nghiệm bất ngờ!

“Đã lên tới đây rồi thì nên đi Mẫu Sơn, chỗ này độc lắm - Linh địa cổ nhé” - cậu bạn vỗ vai tôi.

Từ trung tâm thành phố Lạng Sơn, chúng tôi vượt hơn 20km đến huyện Lộc Bình theo con đường đi cửa khẩu Chi Ma. Tiếp tục đi theo con đường này đến cột mốc kilômet số 7 thì rẽ trái vào một đường đất nhỏ. “Đến đây gửi xe, bắt đầu đi bộ nhé” - cậu bạn chỉ vào Trường tiểu học xã Mẫu Sơn (thuộc thôn Lặp Pịa). Suốt dọc con đường nhỏ chạy men theo sườn núi ước gần 1km chúng tôi nhiều lần giật mình thú vị vì những chú sóc tinh nghịch băng qua đường, chúng quá nhanh nên chẳng chộp được tấm ảnh nào ra hồn.

< Ngôi mộ tổ của dân tộc Dao được khắc chữ Nôm Dao.

Rồi một bãi đá lớn được xếp rất lạ mắt hiện ra trước mắt. Người bạn đồng hành giải thích đó là ngôi mộ tổ của dân tộc Dao, Mẫu Sơn. Ngôi mộ được đánh dấu bằng bảy phiến đá phẳng, cao gần 1m, mặt trước phiến đá có khắc các dòng chữ loằng ngoằng. Anh bạn tôi giải thích đó là chữ Nôm Dao và đây là ngôi mộ tổ của dòng họ Triệu, dân tộc Dao.

Tiếp tục cuộc hành trình qua các loại địa hình từ đường đất rồi đến đường mòn, băng rừng và men theo con đường nhỏ dọc sườn núi, chúng tôi đã đến được khu linh địa cổ Mẫu Sơn.

< Những gì còn sót lại của quần thể linh địa Mẫu Sơn một thời hoành tráng...

Một bãi đất đá trống trải ra trước mắt chúng tôi. Không quá kỳ bí như những gì tôi tưởng tượng về khu linh địa cổ qua câu chuyện người bạn kể trên đường. Đứng ở một vị trí cao đủ bao quát thì có thể hình dung được quần thể linh địa một thời hoành tráng với những nền móng bằng đá, chân cột đá, tường đá, tường gạch, bậc thềm và cả cánh cửa đá…

Những câu chuyện hư cấu

Qua người bạn, tôi được biết thời gian qua có nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã đặt chân tới mảnh đất này. Những nền móng được xác định đó là ngôi đền cổ có từ thế kỷ 10, hai ngôi mộ cổ cũng vậy. Các phiến đá tại khu linh địa cổ này do bàn tay con người đục đẽo, gọt giũa bằng phẳng, các góc của mộ đá vuông thành sắc cạnh, mộ đá có mái che…

< Cối xoay cửa còn sót lại.

Bao phủ xung quanh linh địa này là những câu chuyện hư hư thực thực được truyền miệng khiến hành trình khám phá thêm phần bí hiểm và thú vị. Bất kỳ ai lên đây cũng đều sẽ được nghe câu chuyện kể về phiến đá khóc ra máu. Chuyện kể rằng trong một chuyến đi săn, ông chủ gia đình người Dao vác về một phiến đá kỳ lạ từ khu linh địa cổ, với suy nghĩ đơn giản là dùng vào công việc cá nhân của gia đình.

Thật kỳ lạ là mờ sáng hôm sau, vừa tỉnh giấc ông chủ nhà thấy phiến đá đang rỉ ra những giọt máu. Ông vội vã cùng gia đình thành khẩn cõng phiến đá thiêng lên trả lại chỗ cũ và cầu xin tha thứ. Câu chuyện cứ thế lan truyền mãi trong ký ức của người Dao và các dân tộc khác trong vùng, trở thành câu chuyện kể cho các lữ khách lạc bước lên đây.

< Di tích nền móng đền thờ chính.

Bóng hoàng hôn dần khuất sau bước chân với bao câu chuyện kỳ bí khác. Nào là câu chuyện hoa đào vùng Mẫu Sơn có màu đỏ sẫm vì mảnh đất này được nhuộm bởi dòng máu vô tận từ một câu chuyện tình đầy nỗi oan khiên. Rồi cả lý do tại sao Mẫu Sơn lại nức tiếng với tên một loại rượu mang tên địa danh này…

“Cuối tháng 3 này lại lên nhé, mùa hoa đỗ quyên nở đẹp lắm. Khắp núi rừng sẽ rực bởi sắc đỏ loài hoa này” - cậu bạn hẹn tôi trước khi chia tay.

Khám phá linh địa cổ Mẫu Sơn, Lạng Sơn

Du lịch, GO! - Theo Lam Thanh (TTCN)